Book quote: Gift from the sea

Anne Morrow Lindbergh là nữ nhà văn yêu thích thứ hai của tui sau Alice Munro. Thực ra là tui mới đọc mỗi cuốn “Gift from the sea” (Tạm dịch: “Quà tặng từ biển cả”), nhưng đây là cuốn sách tui gặp gỡ những năm 20 tuổi và vẫn ở bên tui tới tận bây giờ. Đây là vài trích đoạn đáng ghi nhớ từ trong sách, chứ nói thiệt là sách có nhiều chỗ cũng lan man lắm. Tác giả cũng là phụ nữ mà. 😀

Rảnh thử dịch tạm ra tiếng Việt xem sao, nhưng mà sửa mãi vẫn nghe ra lủng củng. Chẳng hiểu đọc sách để làm gì, văn vẻ chả thấy khá hơn mấy. T_T

The most exhausting thing in life, I have discovered, is being insincere. That is why so much of social life is exhausting; one is wearing a mask. I have shed my mask.

“Tôi phát hiện ra, điều khiến con người ta mệt mỏi nhất trên đời chính là sự giả dối. Đó là lý do vì sao cuộc sống của chúng ta đầy mệt mỏi ưu phiền, khi ai cũng đeo một chiếc mặt nạ. Tôi đã vứt mặt nạ của tôi đi rồi.”

Don’t wish me happiness

I don’t expect to be happy all the time…

It’s gotton beyond that somehow.

Wish me courage and strength and a sense of humor.

I will need them all.

“Xin đừng chúc tôi hạnh phúc. Tôi chẳng kỳ vọng mình sẽ hạnh phúc mãi mãi. Tôi còn mong xa hơn thế. Hãy chúc tôi có lòng can đảm và sức mạnh và khiếu hài hước. Tôi sẽ cần tới tụi nó cả đó (vào những giờ khắc không ngờ tới).”

Vào những lúc gặp chuyện không vui, tui luôn nhớ tới câu nói này. Thiệt chẳng có gì cần thiết hơn là óc hài hước, có thể tự trào bản thân trước tình huống éo le. Chỉ tới lúc đó tui mới gom hết can đảm và sức mạnh để vượt qua.

Him that I love, I wish to be free — even from me.

“Người đàn ông tôi yêu, tôi ước anh được tự do, cho dù là tự do khỏi tôi đi nữa.”

When you love someone you do not love them all the time, in exactly the same way, from moment to moment. It is an impossibility. It is even a lie to pretend to. And yet this is exactly what most of us demand. We have so little faith in the ebb and flow of life, of love, of relationships. We leap at the flow of the tide and resist in terror its ebb. We are afraid it will never return. We insist on permanency, on duration, on continuity; when the only continuity possible, in life as in love, is in growth, in fluidity – in freedom.

“Khi bạn yêu một người, không phải lúc nào bạn cũng yêu họ giống hệt theo cùng một cách, lúc này qua lúc khác. Điều đó là không thể dù bạn cố gắng thế nào đi nữa. Thậm chí nếu giả vờ như vậy thì là nói dối. Vậy mà đây lại chính là điều hầu hết chúng ta đòi hỏi. Chúng ta không tin vào sự thăng trầm của cuộc sống, của tình yêu và của các mối quan hệ. Chúng ta vui sướng khi thủy triều lên, nhưng kháng cự lại khi triều xuống. Vì lo sợ nó sẽ không bao giờ trở lại, chúng ta nhất định muốn nó phải cố định như vậy mãi, liên tục như vậy mãi, trong khi sự liên tục duy nhất trong cuộc sống cũng như trong tình yêu, chỉ có thể xuất hiện và tồn tại trong quá trình trưởng thành, trong sự linh hoạt và tự do.”

How inexplicable it seems. Anything else will be accepted as a better excuse. If one sets aside time for a business appointment, a trip to the hairdresser, a social engagement or a shopping expedition, that time is accepted as inviolable. But if one says: I cannot come because that is my hour to be alone, one is considered rude, egotistical or strange.

“Thật kỳ quặc làm sao khi mọi điều khác đều được chấp nhận như một cái cớ hợp lý. Nếu ta bảo mình có một cuộc hẹn làm ăn, hẹn làm tóc, gặp gỡ bạn bè hay đi mua sắm, khoảng thời gian đó được coi là bất khả xâm phạm. Nhưng nếu ta bảo: Tôi không tới được vì đó là khoảng thời gian tôi dành cho chính tôi được ở một mình, ta sẽ bị coi là thất lễ, ích kỷ hay kỳ lạ.”

I promise to respect and protect your aloneness, knowing that everything created must have its period of darkness: child and bulb, poem and personality. I promise not to pry into your loneliness, never to tear at the bud with frightened fingers to make sure there is a flower inside. I believe in the flower.

“Tôi hứa sẽ tôn trọng và bảo vệ sự cô độc của bạn, tôi biết rằng mọi tạo vật đều có khoảng tối của nó: đứa trẻ và mầm củ, thơ và cá tính. Tôi hứa sẽ không tọc mạch vào không gian riêng của bạn, sẽ không bao giờ vạch nụ hoa với ngón tay run rẩy chỉ để chắc chắn rằng có hoa trong đó. Tôi tin vào bông hoa ấy.”

‘No man is an island,’ said John Donne. I feel we are all islands — in a common sea.

“‘Chẳng ai là một hòn đảo cả,’ John Donne từng nói. Tôi cảm thấy rằng chúng ta mỗi người đều là một hòn đảo trong biển lớn.”

A good relationship has a pattern like a dance and is built on some of the same rules. The partners do not need to hold on tightly, because they move confidently in the same pattern, intricate but gay and swift and free, like a country dance of Mozart’s. To touch heavily would be to arrest the pattern and freeze the movement, to check the endlessly changing beauty of its unfolding. There is no place here for the possessive clutch, the clinging arm, the heavy hand; only the barest touch in passing. Now arm in arm, now face to face, now back to back—it does not matter which. Because they know they are partners moving to the same rhythm, creating a pattern together, and being invisibly nourished by it.

“Một mối quan hệ tốt đẹp cũng giống như một bản nhạc khiêu vũ, cùng được xây dựng trên một số nguyên tắc giống nhau. Đôi bạn nhảy không cần phải bám chặt lấy nhau, mà luôn di chuyển nhịp nhàng trong cùng một điệu nhảy, phức tạp nhưng sôi động, nhanh và tự do, như một điệu nhảy đồng quê của Mozart. Nếu chạm quá mạnh là bạn đang phá vỡ tính nhịp nhàng, ngăn trở sự chuyển động, làm mất đi vẻ đẹp của sự thay đổi không ngừng nghỉ đang mở ra. Ở đây không có chỗ cho những cái ôm chiếm hữu, hay những cánh tay đeo bám, hay những bàn tay nặng nề, chỉ có những cái chạm nhẹ nhàng khi đôi bạn lướt qua nhau. Dù là tay trong tay, mặt đối mặt hay lưng chạm lưng, thì cả hai người đều cảm nhận được sự đồng điệu của người bạn nhảy, họ cùng nhau tạo ra điệu nhảy và cùng tận hưởng trong cuộc sống ấy.”

It is not the desert island nor the stony wilderness that cuts you from the people you love. It is the wilderness in the mind, the desert wastes in the heart through which one wanders lost and a stranger. When one is a stranger to oneself then one is estranged from others too. If one is out of touch with oneself, then one cannot touch others.

“Không phải sa mạc khô cằn hay bãi đá hoang vu chia cắt bạn với những người thân yêu. Chính là sự hoang vu trong tâm trí, sa mạc cằn cỗi trong tâm hồn mà bạn đang lạc lối trong đó và trở thành một người lữ hành xa lạ. Khi bạn lạ lẫm với chính mình, thì chính bạn cũng đang tự tách mình khỏi mọi người. Và nếu bạn không thể chạm vào tâm hồn mình, thì làm sao bạn có thể chạm tới tâm hồn người khác.”

The only real security is not in owning or possessing, not in demanding or expecting, not in hoping, even. Security in a relationship lies neither in looking back to what it was in nostalgia, nor forward to what it might be in dread or anticipation, but living in the present relationship and accepting it as it is now.

“Sự đảm bảo thực sự duy nhất không nằm ở sở hữu hay chiếm hữu, không nằm ở đòi hỏi hay mong đợi, thậm chí cũng không nằm trong hi vọng. Sự đảm bảo trong một mối quan hệ không nằm ở việc hoài niệm về những điều xưa cũ, cũng không nằm ở việc trông về tương lai để rồi lo lắng hay dự đoán, mà nằm ở việc sống trong mối quan hệ hiện tại, chấp nhận nó như nó đang là.”

What woman resents is not so much giving herself in pieces as giving herself purposelessly.

“Điều phụ nữ lo sợ không phải là cho đi từng mảnh nhỏ của cô ấy, mà là cứ thế trao đi không mục đích.”

The problem is not entirely in finding a room of one’s own, the time alone, difficult and necessary as that is. The problem is more how to still the soul in the midst of its activities. In fact, the problem is how to feed the soul.

“Vấn đề không phải hoàn toàn nằm ở việc tìm ra không gian riêng cho bản thân, hay thời gian ở một mình, mặc dù điều đó là cần thiết và đã khó lắm rồi. Vấn đề hơn hết là làm sao để giữ tâm hồn tĩnh lặng giữa mớ hỗn độn của các hoạt động. Đúng ra là, làm sao để chăm sóc cho tâm hồn.”

“For Sayonara, literally translated, ‘Since it must be so,’ of all the good-bys I have heard is the most beautiful. Unlike the Auf Wiedershens and Au revoirs, it does not try to cheat itself by any bravado ‘Till we meet again,’ any sedative to postpone the pain of separation. It does not evade the issue like the sturdy blinking Farewell. Farewell is a father’s good-by. It is – ‘Go out in the world and do well, my son.’ It is encouragement and admonition. It is hope and faith. But it passes over the significance of the moment; of parting it says nothing. It hides its emotion. It says too little. While Good-by (‘God be with you’) and Adios say too much. They try to bridge the distance, almost to deny it. Good-by is a prayer, a ringing cry. ‘You must not go – I cannot bear to have you go! But you shall not go alone, unwatched. God will be with you. God’s hand will over you’ and even – underneath, hidden, but it is there, incorrigible – ‘I will be with you; I will watch you – always.’ It is a mother’s good-by. But Sayonara says neither too much nor too little. It is a simple acceptance of fact. All understanding of life lies in its limits. All emotion, smoldering, is banked up behind it. But it says nothing. It is really the unspoken good-by, the pressure of a hand, ‘Sayonara‘.

Anne Morrow Lindbergh, North to the Orient.

Sayonara, nếu dịch nghĩa đen sẽ có nghĩa là “Nếu phải vậy thì…”, trong số những từ tạm biệt mà tôi từng nghe, là từ đẹp nhất. Không giống như Auf WiedershensAu revoirs, nó không cố lừa phỉnh bản thân bằng lời hứa hẹn ‘rồi chúng ta sẽ gặp lại’ hay dùng bất cứ cách gì để trì hoãn nỗi đau ly biệt. Nó cũng không cố lờ đi vấn đề như Farewell. Farewell là lời tạm biệt của một người cha. Ấy là ‘Hãy đi ra thế giới ngoài kia, và mạnh giỏi, con trai.’ Đó là lời cổ vũ và khuyên nhủ. Đó là hi vọng và niềm tin. Nhưng nó đã bỏ qua khoảnh khắc quan trọng; nó chẳng hề nói gì về sự chia ly và cố che giấu cảm xúc. Nó nói quá ít. Trong khi đó, Good-by (Chúa ở bên con) và Adios lại nói quá nhiều. Chúng cố gắng lấp đầy khoảng cách, đến nỗi gần như là chối bỏ. Good-by là lời cầu nguyện, là lời khóc nỉ non. ‘Ôi, con không được đi – Mẹ sẽ không chịu nổi nếu con ra đi! Nhưng con sẽ không đơn độc một mình, không ai dõi theo. Chúa sẽ ở bên con. Bàn tay của chúa sẽ che chở cho con và thậm chí là nâng đỡ con, vô hình nhưng sẽ luôn ở đó’ – ‘Mẹ sẽ ở bên con, sẽ dõi theo con – mãi mãi’. Đây là lời tạm biệt của một người mẹ. Nhưng Sayonara không nói quá nhiều cũng không quá ít. Đó chỉ đơn giản là chấp nhận sự thật. Tất cả mọi sự hiểu biết về cuộc sống nằm ở đây. Mọi cảm xúc, âm ỉ đều được kìm nén lại đàng sau, nhưng nó sẽ không nói gì. Đây thực sự là lời tạm biệt thầm lặng, một cái vẫy tay, ‘Sayonara'”.

Vài năm trước đây, đúng lúc mất hết động lực học tiếng Nhật, thì việc gặp gỡ với nhận định này giúp tui nhận ra tiếng Nhật cũng giống như tiếng Việt hay mọi ngôn ngữ khác, đều có nét tinh tế và những từ rất đẹp, không thể có ở ngôn ngữ khác. Vậy là tui tiếp tục dùi mài. (Mặc dù vậy phải thừa nhận chẳng có mấy bài hát Nhật, phim Nhật níu giữ được lòng tui, sau gần 10 năm =.=)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.