[Book review] Jane Eyre – Charlotte Brontë

I am no bird; and no net ensnares me: I am a free human being with an independent will.

Nhà Brontë có 4 người con thì 3 trong số đó là nhà văn: chị cả Charlotte, em thứ Emily và em gái út Anne. Chị em họ mồ côi mẹ từ bé, rất gắn bó với nhau, cùng có trí tưởng tượng phi thường và niềm đam mê với sách và viết văn. Nhờ một lần Charlotte tình cờ đọc lén những bài thơ mà Emily sáng tác, Emily đã nổi giận nhưng cô cũng vô tình tiêm nhiễm vào đầu Charlotte ý tưởng trở thành nhà văn chuyên nghiệp. Emily chỉ hy vọng nó có thể nuôi sống họ mà không cần phải đi gõ đầu trẻ nữa, chỉ có Charlotte là người duy nhất có tham vọng đạt được danh tiếng ( 1). Họ cùng nhau quyết định mỗi người sẽ viết (và hy vọng xuất bản được) một cuốn tiểu thuyết. Và đó là bối cảnh ra đời của Jane Eyre (Charlotte Brontë), Đồi gió hú (Emily Brontë) và Agnes Grey (Anne Brontë), và tất nhiên, cả những tác phẩm khác của ba chị em họ nữa.

Nếu nhân vật Catherine trong Đồi gió hú của Emily Brontë có sắc đẹp nhưng tính khí thất thường, thì nhân vật Jane Eyre của Charlotte Brontë chính là trái ngược với Catherine.

Cuộc đời có thể không ưu ái cho Jane Eyre nhan sắc, nhưng bù lại đã cho cô một trí óc sáng suốt, có thể nói là sáng suốt nhất trong số tất cả các nhân vật nữ trong những cuốn tiểu thuyết kinh điển mà tui đã đọc. Xuyên suốt cả tác phẩm, dù còn nhỏ hay đã trưởng thành, dù bị ghét bỏ hay được yêu thương, dù nghèo đói hay giàu sang, Jane Eyre chưa từng đánh mất bản thân, sống không thật với chính mình hay hành động mù quáng.

Cuộc đời phú cho cô cả một óc quan sát sắc bén nữa. Có những người sống cả đời cũng chẳng bao giờ thắc mắc bản chất của mọi sự xung quanh, nhưng cô, vừa đặt chân tới một nơi xa lạ đã nhận ra ngay những điểm đặc biệt. Bạn có thể bảo rằng vì cô mới tới nên dễ dàng nhận ra, nhưng không, không phải ai cũng làm được như vậy. Phải có óc quan sát và tinh ý mới nhận ra được. Đó là điều tui vô cùng ngưỡng mộ ở nhân vật này.

Đôi khi chúng ta không biết mình khao khát tự do chừng nào cho tới khi ai đó chỉ tay vào một cái hộp và bảo ta “Hãy ở trong đó!”, ta mới thảng thốt kêu lên “Không đời nào!”. Duy có một lần cô đã phải viện tới tác động bên ngoài để nhận ra mình thực sự muốn gì. Jane Eyre quyết liệt từ chối một thứ mà cô hằng mong ước, vì chấp nhận nó sẽ trái với giá trị đạo đức mà cô coi trọng, và cô đã quyết định ra đi. Phải tới khi cô sắp để mình dấn thân vào một mối ràng buộc thì cô mới nhận ra thứ mình thật sự muốn là gì. Và nhận ra chỉ là một chuyện, lấy hết dũng khí để đi tìm câu trả lời mới thực sự mang lại một cái kết có hậu cho chính cô.

Phải thừa nhận là câu chuyện có vài yếu tố… gọi là gì cho đúng? “may mắn từ trên trời rớt xuống”? khiến cho nó có vẻ không thật và làm giảm bớt giá trị của tác phẩm chút xíu, và tuyến nhân vật cùng bối cảnh xã hội hơi hẹp ra, thì nhìn chung, đây là một tác phẩm đáng đọc, tâm lý nhân vật được mô tả tinh tế, chính xác, và có nhiều điều để cảm nhận từ tính cách gai góc của cô nàng Jane Eyre (và cả các nhân vật khác).

Một vài trích dẫn đáng nhớ từ tác phẩm (phần dịch là trích từ bản tiếng Việt, không phải mình dịch, mặc dù có chỉnh đôi chỗ):

– Jane, be still; don’t struggle so like a wild, frantic bird, that is rending its own plumage in its desperation.

– I am no bird; and no net ensnares me: I am a free human being with an independent will…

Edward Rochester, Jane Eyre, Charlotte Brontë

“- Jane à, bình tĩnh lại đi, đừng vùng vẫy như một cánh chim hoang chỉ vì thất vọng mà bứt tung cả lông mình lên như vậy.
Tôi không phải là chim, và cũng chẳng chiếc lồng nào giam giữ được tôi cả. Tôi là một kẻ tự do, có ý chí không phụ thuộc vào ai cả…”

I care for myself. The more solitary, the more friendless, the more unsustained I am, the more I will respect myself.

Jane Eyre, Charlotte Brontë

“Tôi lo cho bản thân tôi. Tôi càng đơn độc, không bạn bè, không nơi nương tựa thì tôi càng tự trọng”

I am not an angel,’ I asserted; ‘and I will not be one till I die: I will be myself. Mr. Rochester, you must neither expect nor exact anything celestial of me – for you will not get it, any more than I shall get it of you: which I do not at all anticipate.

Jane Eyre, Charlotte Brontë

“Em không phải là một nàng tiên và mãi mãi chẳng thể trở thành một nàng tiên của ông được, dù thế nào thì em cũng chỉ là em thôi. Ông Rochester ạ, đừng trông chờ và cũng đừng nên đòi hỏi ở em một điều gì không thể có, vì ông sẽ chẳng bao giờ thấy được điều đó ở em, cũng như em chẳng thể thấy điều đó ở ông. Mình nên sống với thực tại thì hơn.

Rất thực tế và sáng suốt nữa. Nhắc tới mới nhớ, điều tui thích thứ hai chính là những đoạn hội thoại giữa Jane và Mr. Rochester.

As much good-will may be conveyed in one hearty word as in many.

Jane Eyre, Charlotte Brontë

“Nói ra bằng sự chân thành tự đáy lòng mình thì đâu cần phải nhiều lời làm gì.”

The flame flickers in the eye; the eye shines like dew; it looks soft and full of feeling; it smiles at my jargon: it is susceptible; impression follows impression through its clear sphere; where it ceases to smile, it is sad; an unconscious lassitude weighs on the lid: that signifies melancholy resulting from loneliness. It turns from me; it will not suffer further scrutiny; it seems to deny, by a mocking glance, the truth of the discoveries I have already made,–to disown the charge both of sensibility and chagrin: its pride and reserve only confirm me in my opinion. The eye is favourable.

As to the mouth, it delights at times in laughter; it is disposed to impart all that the brain conceives; though I daresay it would be silent on much the heart experiences. Mobile and flexible, it was never intended to be compressed in the eternal silence of solitude: it is a mouth which should speak much and smile often, and have human affection for its interlocutor. That feature too is propitious.

I see no enemy to a fortunate issue but in the brow; and that brow professes to say,–‘I can live alone, if self-respect, and circumstances require me so to do. I need not sell my soul to buy bliss. I have an inward treasure born with me, which can keep me alive if all extraneous delights should be withheld, or offered only at a price I cannot afford to give.’ The forehead declares, ‘Reason sits firm and holds the reins, and she will not let the feelings burst away and hurry her to wild chasms. The passions may rage furiously, like true heathens, as they are; and the desires may imagine all sorts of vain things: but judgment shall still have the last word in every argument, and the casting vote in every decision. Strong wind, earthquake-shock, and fire may pass by: but I shall follow the guiding of that still small voice which interprets the dictates of conscience.’

Sibyl, Charlotte Brontë

“Những ánh lửa lung linh trong mắt, ánh mắt long lanh như những giọt sương, trông dịu dàng và chứa đầy cảm xúc. Nó mỉm cười vì những lời kỳ lạ của ta. Nó nhạy cảm quá, mọi cảm xúc cứ lần lượt trôi qua trong ánh sáng ấy. Khi ánh mắt hết cười, cái u buồn lại lập tức ập đến. Sự mệt mỏi vô thức đè nặng lên mi mắt, cho thấy ưu phiền của những chuỗi ngày sống trong cảnh chăn đơn gối chiếc. Nó quay đi, không nhìn ta nữa, vì không muốn bị soi xét tỉ mỉ hơn. Có vẻ như cái nhìn nhạo báng, thách thức kia đang định phủ nhận cái sự thực mà ta đã khám phá, phủ nhận cả cái nhạy cảm và nỗi phiền muộn u hoài hằn sâu lên dáng dấp của nó. Vẻ kiêu hãnh và sự dè dặt của nó chỉ càng khẳng định ý nghĩ của ta là đúng mà thôi. Đôi mắt được lắm.

Còn cái miệng, đôi khi rất gợi cảm khi cười, có thể nói ra tất cả mọi quan niệm trong đầu, cho dù chưa chắc đã chịu nói ra những nỗi niềm trong tim. Nhưng nó cũng linh hoạt, uyển chuyển, chẳng bao giờ chịu kìm nén mãi trong sự câm lặng vĩnh cửu của cảnh cô đơn. Đáng lẽ đó phải là cái miệng nói nhiều hơn, cười cũng nhiều hơn, và có tình thương yêu nhân bản với người nói chuyện với nó. Cái miệng quả thật cũng rất nét.

Ta không thấy có kẻ thù nào cản trở đường may mắn ngoài đôi lông mày kia ra. Đôi lông mày như xác nhận: ‘Mình có thể sống cô đơn nếu lòng tự trọng và hoàn cảnh bắt mình phải làm như vậy. Mình đâu cần phải bán tâm hồn đi để mua hạnh phúc. Mình có cả một kho báu được sinh ra cùng với mình, có thể giúp mình tồn tại trên đời nếu mọi ham muốn khoái lạc không chính đáng đều không động chạm đến mình, hoặc chỉ đưa ra một cái giá mà mình không thể kham nổi”. Còn vầng trán tuyên bố: “Lý trí ngồi thật vững vàng và cầm dây cương, không để cho cảm xúc bùng lên và xô đẩy nó xuống vực thẳm hoang tàn. Các dục vọng có thể lồng lộn cuồng loạn như những kẻ ngoại đạo chính cống. Và cho dù các ham muốn có thể tưởng tượng ra đủ chuyện hồ đồ, nhưng sự phán quyết bao giờ cũng vẫn cho lời kết thúc cuối cùng trong mọi cuộc tranh luận, và sẽ là tiếng nói có trọng lượng hơn cả trong mọi quyết định. Cuồng phong, trời rung đất chuyển, bão lửa tràn qua cũng chẳng hề gì, mình vẫn cứ tuân theo sự đưa đường chỉ lối của cái tiếng nói nho nhỏ mang thông điệp của lương tâm ấy’.”

Khuôn mặt của Jane được bảo là không đẹp, nhưng qua những lời mô tả như kia, còn ai để ý tới vẻ ngoài nữa nếu bên trong đó chứa đựng một tâm hồn đẹp đến thế kia?

It is in vain to say human beings ought to be satisfied with tranquillity: they must have action; and they will make it if they cannot find it. Millions are condemned to a stiller doom than mine, and millions are in silent revolt against their lot. Nobody knows how many rebellions besides political rebellions ferment in the masses of life which people earth. Women are supposed to be very calm generally: but women feel just as men feel; they need exercise for their faculties, and a field for their efforts, as much as their brothers do; they suffer from too rigid a restraint, too absolute a stagnation, precisely as men would suffer; and it is narrow-minded in their more privileged fellow-creatures to say that they ought to confine themselves to making puddings and knitting stockings, to playing on the piano and embroidering bags. It is thoughtless to condemn them, or laugh at them, if they seek to do more or learn more than custom has pronounced necessary for their sex.

Jane Eyre, Charlotte Brontë

“Thật vô ích khi nói rằng con người nên thỏa mãn với cuộc sống an phận thầm lặng, vì phàm đã làm người thì phải năng động, và nếu chưa năng động thì phải tìm cách mà tạo ra. Trên đời này có hàng triệu người cam chịu cảnh an bài hơn tôi, nhưng cũng có hàng triệu người âm thầm cưỡng lại số mệnh. Không ai biết ngoài những cuộc nổi loạn về chính trị còn có bao nhiêu cuộc nổi loạn khác đang lên men trong đám quần chúng sống trên chốn hồng trần này. Phụ nữ thường bị coi là những người quen an phận, nhưng thực ra họ cũng cảm nghĩ y như những người đàn ông. Họ cần thể hiện những phẩm chất thiên phú của mình và cần có đất cho các nỗ lực của mình như những người anh em nam giới. Họ đau khổ vì những gò ép ác nghiệt, vì sự trì trệ tù túng như những người đàn ông phải đau khổ. Thật là hẹp hòi khi nói rằng phụ nữ thì chỉ nên quanh quẩn với chuyện bếp núc, khâu vá thêu thùa và dạo dương cầm. Chỉ những kẻ không biết nghĩ mới kết tội hoặc chê cười phụ nữ khi thấy họ cố gắng hoặc học giỏi để vượt ra ngoài những quan niệm thông thường về giới tính.”

Tác phẩm này xuất bản năm 1847, vậy nên có thể nói, Jane Eyre chính là đi trước thời đại tới 100 năm. Ca khúc mở đầu cho bộ phim Anne with an E, Ahead by a century dành cho cô bé Anne tóc đỏ cũng nên được dành cho cả Jane Eyre nữa.

There is no happiness like that of being loved by your fellow-creatures, and feeling that your presence is an addition to their comfort.

Jane Eyre, Charlotte Brontë

“Quả thực là chẳng còn gì hạnh phúc hơn khi được mọi người xung quanh yêu mến và khi cảm thấy sự có mặt của mình đã làm cho mọi người thêm vui.”

[Tóm tắt + cảm nhận] Phải trái đúng sai

Hôm nay tình cờ đọc được bài viết về PHỎNG VẤN MICHAEL SANDEL VỀ CÔNG BẰNG trên bookhunterclub khiến mình nhớ lại cuốn sách hay nhất đọc được trong năm 2019. Cuốn sách này tình cờ rớt vào tay mình qua một buổi trao đổi sách. Lúc ấy chọn nó chỉ vì tình cờ, mình không có ý muốn lấy thêm sách phi hư cấu nữa (vì nhà có đủ rồi), nhưng vì mang sách đi đổi mà chưa chọn được cuốn nào mang về, mà nó là cuốn còn sót lại chẳng ai lấy. Lúc ấy mình chỉ nghĩ, một cuốn sách ai đó mang đi trao đổi thì có lẽ cũng bình thường thôi. Bây giờ mình cũng chẳng nhớ bạn ấy là ai, nhưng nếu bạn ấy thực sự biết giá trị của cuốn sách mà vẫn sẵn lòng đem cho đi để chia sẻ thì mình thật ngưỡng mộ bạn ấy lắm. Là mình mình không làm được như thế, trừ khi mình tình cờ có 2 cuốn =.=. Lúc cầm cuốn sách trên tay, mình chẳng hề có chút ý tưởng về Michael Sandel là ai và mình đang dấn thân vào cái thứ gì. (Sau mới biết bác là học giả nổi tiếng và cuốn sách cũng nổi tiếng mức nào o_O). Nếu biết trước liệu sức ảnh hưởng của nó có bớt đi? Mình sẽ chẳng bao giờ biết. Thường bạn sẽ chẳng bao giờ biết trước điều gì sẽ bước vào và thay đổi mình mãi mãi. Sau này nhìn lại bạn mới nhận ra.

Mình đã không biết đây không phải là cuốn sách phi hư cấu bình thường, không phải kiểu sách đọc để lấy thông tin rồi cất lại lên giá sách. Đây là kiểu sách đọc xong, độc giả sẽ không còn là mình lúc trước khi đọc (ít ra là những độc giả như mình, không biết trước về cuốn sách) và sẽ không ngừng nghĩ về những gì đã đọc, lâu lâu lại lấy ra đọc lại (như mình hôm nay).

Nhìn tên có thể đoán cuốn sách nói về “Công lý”. Cuốn sách đặt ra câu hỏi “Thế nào là công bằng?”. Hẳn là khi nghe câu hỏi, mọi người đều có thể dễ dàng đưa ra câu trả lời cho mình.

Chia đều không phải lúc nào cũng công bằng

Gần đây cuộc bầu cử ở Mỹ đang thu hút dư luận ghê lắm. Mọi người đều tập trung chú ý vào 2 ứng cử viên mạnh nhất: tổng thống đương nhiệm Donald Trump, đại điện đảng Cộng Hòa và ứng viên được cho là đối thủ Joe Biden, đại diện đảng Dân Chủ. Cá nhân mình không thực sự quan tâm tới nước Mỹ nói riêng, mà quan tâm tới điều mà quốc gia đó (và cả các quốc gia khác) đang theo đuổi hơn, đó là “công bằng xã hội” và “tự do cá nhân”. Mọi quốc gia đều mong muốn dung hòa cả hai, nhưng điều đó chẳng dễ dàng gì.

“Thế nào là công bằng?” Khi mình đưa ra câu trả lời, mình đã nghĩ nó luôn đúng. Nhưng rồi có thật vậy không? Cuốn sách này đã thách thức quan điểm của mình, bắt mình phải nghĩ sâu hơn, nhìn vấn đề một cách phức tạp hơn. Nguyên tắc trước đây tưởng là đúng thực ra có thể không còn đúng vào tình huống khác và ngược lại. Giờ thì mình không còn chắc chắn nữa. Haha, đôi khi nghĩ quẩn: “Có khi không đọc sách tốt hơn, ít ra mình có thể chắc chắn về một điều gì đó”. Càng đọc thì càng chắc chắn duy nhất một điều “Chẳng có gì là chắc chắn 100% cả”. (Trừ các tiên đề. Dù sao phải có thứ gì để mọi thứ khác gá vào chứ???)

Đọc tới giữa chừng mình mới nhận ra đây là một cuốn sách TRIẾT HỌC với ánh đèn nhá sáng!!! Lúc phát hiện ra thì mình đã lún quá sâu vào chủ đề này, rút chân ra không kịp.

Bằng những ví dụ thực tiễn, tác giả cụ thể hóa 3 ý tưởng triết học trả lời cho câu hỏi “Thế nào là công bằng?”:

THUYẾT VỊ LỢI nghĩa là tối đa hóa hạnh phúc, mà Jeremy Bentham là người ủng hộ nhiệt tình. Minh họa cho thuyết này chính là ví dụ kinh điển về xe điện đứt phanh (tình huống này rất nổi tiếng, được Michael Sandel đưa ra trong những lớp học của ông, và mình còn gặp nó trước khi đọc sách qua bộ phim “The Good place”). Hãy tưởng tượng bạn là người đang lái con tàu lao đi với vận tốc 96km/h. Phía trước có 5 công nhân đang làm việc trên đường ray, không để ý tới xe điện đang lao về phía họ. Bạn kéo phanh nhưng phanh không ăn. Nếu tai nạn xảy ra 5 công nhân sẽ chết. Và bạn chợt nhìn sang đường ray bên phải, phía đó chỉ có 1 công nhân. Bạn có quyết định bẻ lái sang phải, hi sinh 1 người để cứu 5 người? Tui đoán nhiều người trả lời “Có”. Nếu buộc phải chọn thì tui cũng chọn có, vì đó là giải pháp tối ưu (nhưng có đúng về đạo đức không thì không chắc). Thuyết vị lợi là vậy.

Giờ đổi một chút, tình huống xe điện vẫn vậy, vẫn là xe điện đang lao về phía 5 công nhân nhưng bạn không phải người cầm lái nữa mà là khách qua đường trên một cây cầu bắc ngang qua đường ray. Có một người đàn ông rất to béo đứng cạnh bạn trên cầu. Nếu đẩy người đàn ông đó xuống, bạn sẽ dừng được xe điện và cứu sống 5 người. (Giả sử bạn có thể tự nhảy nhưng bạn quá gầy để dừng xe điện). Liệu bạn có muốn đẩy người đàn ông đó xuống? Hẳn số người có thể chắc chắn trả lời “Có” sẽ giảm đáng kể mặc dù vẫn là hi sinh 1 người để cứu 5 người, Thuyết vị lợi đúng trong tình huống trên không còn hoàn toàn đúng trong tình huống này nữa. Vì sao?

Nếu đọc sách thì còn nhiều tình huống thú vị khác nữa. Ví dụ nếu tối đa hóa hạnh phúc là đúng, liệu chúng ta có nên làm giống Robin Hood, lấy 1 triệu đô la của Warren Buffett chia cho mỗi hộ nghèo 10 ngàn đô la? Nỗi buồn khi bị lấy đi 1 triệu đô la của Warren Buffett sẽ chẳng là gì nếu so với niềm hạnh phúc mà 10 ngàn đô la đem lại cho những gia đình nghèo. Nếu bạn cho rằng điều trên là sai trái, bạn là người theo thuyết tự do. Tới đây tui thấy mình ba phải lắm.

HỌC THUYẾT TỰ DO của John Stuart Mill lên tiếng: “Tôi tuyệt đối độc lập. Tôi là chủ nhân tuyệt đối của cả cơ thể và tâm hồn.” (và cả tài sản). Thuyết này có vẻ đúng trong ví dụ trên kia. Warren Buffett có toàn quyền với tài sản của ông, không ai có quyền lấy đi tiền của ông khi ông không muốn. Nó cũng đúng với ví dụ về xe điện, không ai có quyền tước đi mạng sống của tôi nếu tôi không muốn, dù là để cứu mạng nhiều người khác. Thế nhưng lại một lần nữa, cuốn sách đưa ra những ví dụ mà ở đó thuyết tự do không còn đúng nữa. Chúng ta có thực sự sở hữu chính mình? Nếu tôi có toàn quyền với cơ thể mình, vậy cũng đúng nếu tôi có thể bán đi một quả thận để lấy tiền? Hay mang thai hộ lấy tiền cũng đúng? Hay trợ tử? Thuê lính đánh thuê? Đánh thuế những người thu nhập cao là đúng hay sai? Ý tưởng “tự sở hữu” khi áp dụng tới tận cùng thì chỉ những người ủng hộ cực đoan mới có thể ưa thích nổi: một thị trường tự do hoàn toàn, một nhà nước tối thiểu không hề có một biện pháp làm giảm bất bình đẳng…

QUAN ĐIỂM VỀ QUYỀN của Immanuel Kant: “Con người là thực thể có lý trí, có phẩm giá và xứng đáng được tôn trọng”. Kant có quan điểm rất thú vị và cũng rất khắt khe về tự do. Chúng ta thường cho rằng tự do là làm điều mình thích mà không bị cấm cản. Nhưng Kant không đồng ý như vậy. Ví dụ, khi chọn kem, bạn chọn vị chocolate thay vì vị dâu và bạn cho rằng mình đang hành động tự do. Kant thì chỉ cho rằng bạn chỉ đang cố gắng chọn cho mình 1 vị kem phù hợp với sở thích, cái sở thích không do bạn chọn, nó có thể là do bẩm sinh, hoặc do bị xã hội ảnh hưởng, vậy nên hành động không hoàn toàn tự do. Theo Kant, hành động tự do là hành động tự chủ, theo quy tắc tự tôi định ra cho chính mình, không theo mệnh lệnh của tự nhiên hoặc quy ước xã hội. Khi hành động vì mục tiêu bên ngoài, chúng ta không tự do. Đối với Kant, tôn trọng phẩm giá con người là đối xử với con người như một mục đích tự thân. Và đây là lý do vì sao hành động đẩy ông béo xuống chặn đường tàu là sai vì như vậy là đã đối xử với ông ta như một đồ vật chứ không phải con người. Đây cũng là câu trả lời của Kant cho việc tại sao buôn bán nội tạng, mang thai thuê hay lính đánh thuê là sai, vì hành động này đã coi cơ thể con người là hàng hóa.

Chúng ta thường quyết định những vấn đề về đạo đức là đúng hay sai, ủng hộ hay phản đối một điều gì theo ý kiến và quan điểm của bản thân khá dễ dàng, nhưng lại khó giải thích tại sao một cách rõ ràng, vì những lý do nằm trong tiềm thức sâu xa. Đi sâu vào khám phá lý do của bản thân là một trải nghiệm đau đầu nhưng lý thú và dấn thân vào triết học là con đường duy nhất để tìm ra câu trả lời. Dần dần chúng ta sẽ không còn trả lời trong vô thức nữa, mà là quyết định trong tỉnh táo.

Tới đây nói ngoài lề chút, đọc về quan điểm của Kant về hành động tự do, mình nhận thấy quan điểm của Erich Fromm về tình yêu (tình yêu nói chung, không phải mỗi tình yêu nam nữ) trong cuốn The Art of loving (Nghệ thuật của tình yêu) cũng tương đồng, phải chăng là bị ảnh hưởng từ Kant? Trong cuốn The Art of loving, Erich Fromm do dự khi gọi Yêu là “hành động” theo nghĩa xã hội của từ này. Mọi người thường cho rằng hành động là chủ động, không làm gì là bị động nhưng thực ra không phải vậy. Phần lớn hành động là do thôi thúc ở bên ngoài và vì thế nó là bị động. Một người ngồi thiền không làm gì bị cho là bị động nhưng đó lại là hành động chủ động nhất vì nó hoàn toàn tuân theo tự chủ của người đó. Yêu theo Erich Fromm là một hành động chủ động, tuân theo nghĩa vụ tự thân của nó chứ không phải bị động do tác động từ bên ngoài. Mình chợt nhận thấy có nét tương đồng giữa hai tư tưởng từ hai cuốn sách đó vậy thôi.

Tuân theo mục đích tự thân của con người, Kant cũng cho rằng bảo vệ mạng sống của mình là nghĩa vụ. Hầu hết mọi người đều có khát vọng sống nên nghĩa vụ này hiếm khi xuất hiện. Kant cho rằng làm một điều gì vì nghĩa vụ, nghĩa là vì đó là điều đúng thì hành động đó mới có giá trị đạo đức. Sống vì đó là đúng chứ chẳng vì lý do nào khác. Chúng ta thường cho rằng mình tiếp tục sống vì mình yêu cuộc sống. Vậy không yêu cuộc sống nữa thì tự tử cũng đúng? Vậy nên lý do yêu cuộc sống không mang lại giá trị đạo đức. Chỉ khi một người vô cùng đau khổ đến mức không còn ý muốn sống, nhưng vẫn quyết định trái với ý muốn mà sống vì nghĩa vụ thì khi đó hành động sống của anh ta mới có giá trị đạo đức. Đương nhiên Kant không có ý nói là bạn phải khốn khổ để hành động của mình có giá trị đạo đức, hay niềm vui sống làm giảm giá trị đạo đức của hành động sống. Miễn là bạn sống với ý niệm đó là nghĩa vụ.

Kant lập luận đạo đức không thể dựa trên những yếu tố mang tính kinh nghiệm như mối quan tâm, sở thích, ham muốn – ngay cả ham muốn được hạnh phúc – … vì những yếu tố này liên tục biến đổi và lệ thuộc, khó có thể trở thành nguyên tắc đạo đức phổ quát. Ông lập luận chúng ta có thể đến được nguyên tắc tối thượng thông qua việc thực hiện điều mà ông gọi là “lý trí thực tiễn thuần túy”. Để biết làm cách nào thì chúng ta phải khám phá mối quan hệ giữa năng lực suy lý và năng lực tự do của con người. Phần lý giải này dài lắm. Một ví dụ minh họa dễ hiểu hơn là hành động nói dối. Giả sử một kẻ sát nhân đang đứng trước cửa nhà bạn để tìm giết một người bạn đang trốn trong nhà. Liệu bạn có nói thật cho kẻ sát nhân biết? Chúng ta đều biết nói dối là sai, nhưng đồng thời lại cũng cho rằng trong một vài tình huống cụ thể như trên, nói dối là “đúng”. Ấy là vì chúng ta đã dựa trên kinh nghiệm (ở đây là để bảo vệ bạn mình) để phán đoán đạo đức. Theo Kant, nguyên tắc đạo đức là tuyệt đối: nếu nói dối là sai, nó sẽ luôn sai trong mọi tình huống dù là để bảo vệ mạng sống của người thân; phải tuân theo nghĩa vụ đạo đức, bất chấp mọi hậu quả. Trong tình huống thế này, phải xử lý sao cho đúng? Xin hãy đọc sách để biết thêm.

Mình mới chỉ tóm tắt được nửa đầu của cuốn sách. Nửa sau cũng như nửa đầu, tác giả liên tục đưa ra những tình huống đạo đức, các học thuyết triết học trả lời để trả lời, và các học thuyết kế tiếp để phản bác. Trong lịch sử phát triển triết học của loài người, các học thuyết triết học liên tục ra đời nhằm phản bác lại và/hoặc tiếp tục phát triển tiếp các học thuyết trước đó và các triết gia vẫn còn tiếp tục cuộc đàm luận tới tận ngày nay mà chưa có câu trả lời cuối cùng, vì các câu hỏi cứ tiếp tục nảy sinh mãi, có khi xa tít tắp khỏi câu hỏi ban đầu. 😀 Và mình thì cũng bắt đầu bị cuốn vô vòng xoáy không dứt này rồi. Hi vọng ai đó đọc tới đây cũng bị cuốn vô như mình. Chúng ta sẽ bắt đầu nhìn thế giới này khác đi một chút, cũng có thể là nhiều chút, không hẳn là tốt đẹp hơn mà là thực tế hơn, như nó vốn là.

Challenge: Đoán tên sách kinh điển hiện đại

Mấy câu đính * là mấy cuốn tự đoán được, ? là đoán được mà không chắc lắm, r là đã đọc rồi. Còn lại đều là chưa từng nghe tới, phải đi tìm mới ra.

Đọc dòng gợi ý nội dung truyện mới thấy hóa ra cốt truyện có thể nhảm xít, còn tác phẩm có trở thành trường tồn với thời gian hay không là nhờ tài năng của tác giả.

1. Chàng và nàng yêu nhau. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Nàng tự tử bằng cách lao đầu vào xe lửa.

Anna Karenina – Leo Tolstoy

2. Chàng và nàng yêu nhau, maybe. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Nàng tự tử bằng arsenic.

Bà Bovary (Madame Bovary) – Gustave Flaubert

3.1?. Chàng và nàng yêu nhau. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Chàng và nàng tự tử cùng nhau. (Chuyện có nhà tu sĩ.)

Romeo và Juliet (Romeo and Juliet) – William Shakespeare

3.2. Chàng và nàng yêu nhau. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Chàng và nàng tự tử cùng nhau. (Chuyện có con sư tử.)

Pyramus and Thisbe – Ovid’s Metamorphoses, 1497

Note 3.: William Shakespeare đã sáng tác Romeo và Juliet dựa trên tác phẩm Metamorphoses của Ovid (một dạng truyện thơ dân gian), vậy nên hai tác phẩm mới có nhiều tương đồng như vậy. Metamorphoses của Ovid cũng truyền cảm hứng cho rất nhiều nhà văn khác.

4. Chàng và nàng yêu nhau, maybe. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Vì chàng phát điên giết chết cha nàng, làm nàng phát điên tự tử.

Ophelia – William Shakespeare

Note 4.: phải tìm đọc cả Macbeth và Hamlet nữa.

5?r. Chàng và nàng yêu nhau. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Chàng và nàng chết, biến thành hồn ma hú hét bên nhau.

Đồi gió hú (Wuthering Height) – Emily Brontë

6. Chàng và nàng yêu nhau, maybe. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Vì chàng là mục sư. Lúc chết, trên ngực chàng lộ ký hiệu đỏ choét.

Chữ A màu đỏ (The scarlet letter) – Nathaniel Hawthorne

7*. Chàng và nàng yêu nhau, maybe. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Vì chàng là linh mục. Cuộc đời nàng được ví như loài chim chỉ hót một lần rồi chết.

Tiếng chim hót trong bụi mận gai (The thorn birds) – Colleen McCullough

8*r. Chàng sở hữu gia sản khấm khá, thế chắc chắn là cần lấy vợ. Đó là sự thật ai cũng phải công nhận.

Kiêu hãnh và định kiến (Pride and Prejudice) – Jane Austen

9. Chàng luôn cảm thấy một người anh to lớn đang nhìn mình. Chàng yêu anh ấy.

1984?  or Tristan và Isolde?

10*r. Chàng và nàng yêu nhau. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Vì chàng đã lỡ cưới một vợ điên gào rú trên mái nhà.

Jane Eyre – Charlotte Brontë

11. Chàng yêu một chàng khác, nhưng không nhận ra. Chàng theo đuổi người ta cả đời, chỉ vì một mẩu bánh mì. Tới khi nhận ra sự vớ vẩn của bản thân, chàng nhảy sông tự tử.

Những người khốn khổ (Les Misérables) – Victor Hugo

12*r. Chàng làm nghề đốt sách, nhưng nhận ra mình yêu sách. Vấn đề là mọi người xung quanh chàng đều thích đốt sách.

451 độ F (451 Fahrenheit) – Ray Bradbury

13. Chàng và nàng yêu nhau. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Vì nàng đã suýt bỏ chạy (không thành) theo người khác trong lúc chàng ở nước ngoài.

Chiến tranh và hòa bình (War and peace) – Leo Tolstoy

14*r. Chàng yêu nàng chưa đủ tuổi thành niên. Chàng và nàng không thể ở bên nhau mãi (đương nhiên). Tình yêu (và mọi chuyện chàng kể) có thể có thật hoặc không có thật.

Lolita – Vladimir Nabokov

15*r. Chàng và nàng yêu nhau. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Về sau, chàng nhìn đầy tiếc nuối về hướng đốm sáng xanh nhấp nháy, nơi có nhà vợ chồng nàng, và quyết tổ chức tiệc thật to cho bọn nó lé mắt.

Gatsby vĩ đại (The Great Gastby) – F. Scott Fitzgerald

16*r. Chàng yêu nàng, nhưng nàng yêu một chàng khác. Tới hồi chàng bỏ đi, nàng lại yêu chàng. Chàng tức quá quăng cho câu chửi thề vào mặt. Nàng sốc quá nhưng vẫn tin vào ngày mai.

Cuốn theo chiều gió (Gone with the wind) – Margaret Mitchell

17. Chàng yêu nàng, nhưng nàng yêu một nàng khác. Hôm nay nàng tổ chức tiệc. Nàng đang nghĩ mình sẽ mua hoa. Hoặc là tự tử.

Quý bà Dalloway (Mrs Dalloway) – Virginia Woolf

18. Chàng yêu nghề vớt trẻ em té xuống vách đá kế bên ruộng lúa. Nghề này chắc chắn là không có thật.

Bắt trẻ đồng xanh (Catcher in the Rye) – J. D. Salinger

19. Chàng yêu nghề thu thập linh hồn người chết. Nghề này tưởng là không có thật nhưng hoá ra là có thật (trong truyện).

Dead souls – Nikolai Gogol

20. Chàng yêu chú cá voi. Chàng theo đuổi nhưng không thể ở bên cá, vì cá sẽ cắn chết chàng. Ngoài ra, chàng có thể là gay.

Cá voi trắng (Moby Dick) – Herman Melville, 1851

21. Chàng yêu một chiếc bánh. Hương bánh đưa chàng trở về tuổi thơ lúc được mẹ thơm cho ngủ.

Bên phía nhà Swann (Swann’s Way) – Marcel Proust, 1913

22?. Chàng đang bị xử bắn, bỗng nhớ lại một buổi chiều được cha dắt đi xem nước đá. Dòng họ nhà chàng toàn những người giống nhau.

Trăm năm cô đơn (One hundred years of solitude) – Gabriel Garcia Marquez

23*r. Hôm nay mẹ chàng mất, hoặc là hôm qua. Trời nóng quá, chàng xách súng ra bắn người, xong bị xử tử.

Người xa lạ (The stranger) – Albert Camus

24. Chàng yêu tiền và ghét Giáng Sinh. Nhưng bị ma quỷ hù doạ, nên từ giờ chàng đổi thái độ.

A Christmas Carol – Charles Dickens

25?. Chàng yêu khoa học. Chàng chôm các bộ phận xác chết về khâu thành một chú quái vật xinh xinh, đến hồi nó ngọ nguậy, chàng sợ quá chạy mất dép. Nó bị phụ tình bèn giết hết gia đình chàng.

Frankenstein – Mary Shelley, 1818

26*r. Chàng vác rìu đi giết hai người phụ nữ, không vì lý do gì.

Tội ác và trừng phạt (Crime and punishment) – Fyodor Dostoyevsky, 1866

27?r. Chắc chắn có kẻ vu oan cho chàng, vì sáng nay chàng bị bắt, không vì lý do gì.

Bá tước Monte Cristo – Alexandre Dumas? Vụ án – Kafka?

28. Chàng đi tù vì tội gay. Trong xà lim, chàng viết thư cho người tình – những con chữ từ dưới vực thẳm sâu.

De profundis – Oscar Wilde, 1908

29. Nàng như một đứa trẻ nằm trong giỏ cói được thả trôi sông đến dưới chân chàng. Sex đối với chàng rất nhẹ, nhưng với nàng rất nặng.

Đời nhẹ khôn cam (The Unbearable lightness of being) – Milan Kundera

30. Thuở ấy vừa tốt vừa xấu, vừa khôn vừa ngu, vừa tín vừa nghi, vừa sáng vừa tối.

31*r. Nàng theo chân thỏ, nàng chui xuống hố. Nàng thoắt bé lại, nàng thoắt to ra.

Alice ở xứ sở thần tiên (Alice in wonderland) – Lewis Carroll

32. Nàng có tám chân, nàng giỏi chữ nghĩa. Nàng đan tơ dệt chữ, cứu mạng chàng lợn cừ.

Charlotte và Wilbur (Charlotte’s Web) – E.B. White, 1952

33. Trong lúc bị Nazi giam giữ, chàng tập đánh cờ trong tưởng tượng, và trở thành kỳ thủ cờ vua có một không hai.

Thiên truyện cờ vua (Schachnovelle) – Stefan Zweig, 1941

34. Một người đi với một người, một người to tướng một người tí teo. Hai người làm lụng nông gia, mong sao gom góp đủ tiền ra riêng. Nào ngờ anh bự sát nhân… (thôi xin không kể khéo thì spoiler).

Của chuột và người (Of mice and men), John Steinbeck, 1937

35. Một người đi với một người, hai người chờ mãi một người thứ ba. Hai người chẳng biết làm sao, khi người kia chẳng thèm ra gặp mình.

Đợi chờ Godot (Waiting for Godot ) – Samuel Beckett, 1949

36. Một nhóm nữ sinh đi cắm trại. Ba nàng một đi không trở lại.

37*r. Mười người da đen giữa thiên nhai. Chết dần dần không còn một ai.

Mười người da đen nhỏ (And then there were none) – Agatha Christie, 1939

38. Ở ngôi làng của chàng, người ta bảo Chúa bóp vụn mặt trăng cũ thành những vì sao.

Một ngày trong đời Ivan Denisovich (One Day in the Life of Ivan Denisovich) – Aleksandr I. Solzhenitsyn, 1962

39. Chàng lái xe lang thang khắp chốn, gặp gỡ những kẻ điên-điên-điên, ham muốn rồ dại, cháy-cháy-cháy, cháy bỏng như ngọn lửa đèn cầy vàng, nổ tung như những con nhện trên khắp bầu trời đầy sao.

Trên đường (On the road) – Jack Kerouac, 1957

40. Lá lặng yên trên cành không xao động, chỉ còn tiếng ve rung ngân và tiếng biển khơi rì rào vọng lên từ phía dưới như cất lời về một chốn bình yên, về giấc ngủ vĩnh hằng đang chờ đợi chúng ta. Tiếng ầm ào dưới ấy đã vang vọng từ khi chưa có Yalta, chưa có Oreanda, vẫn đang vang vọng lúc này, và vẫn sẽ vang vọng hững hờ và trống rỗng như thế cả khi chúng ta không còn nữa. Và trong sự thường hằng, trong sự bàng quan hoàn toàn đối với sự sống và cái chết của mỗi chúng ta, nơi đó dường như chứa đựng lời hứa hẹn về sự cứu rỗi vĩnh cửu, về sự tiến triển không ngừng của sự sống trên mặt đất, về sự vận động liên tục về phía vẹn toàn hoàn hảo.

Người đàn bà và con chó nhỏ (The Lady with the Dog) – Anton Chekhov, 1899

41. Ngồi cạnh người đàn bà trẻ trung, hồng lên đáng yêu trong ánh bình minh, Gurov, êm dịu và mê say trước không gian xung quanh – biển khơi, núi non và mây trời rộng mở – nhận ra rằng vạn vật trên cõi đời này thật đẹp đẽ làm sao một khi ta cảm nghiệm về-mọi-thứ, chỉ trừ những thứ ta nghĩ hay làm khi ta quên mất những cùng đích cao vượt của cuộc sống, quên mất phẩm giá con người mình.

42. Chàng và nàng yêu nhau. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Vì nàng đã lỡ cưới ông chú già cả khô khan của chàng.

Middlemarch – George Eliot, 1871

43. Chàng và nàng yêu nhau. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Vì nàng đã lỡ bị kẻ khác “ép ăn dâu”.

Tess of the d’Urbervilles – Thomas Hardy, 1891

44. Chàng và nàng yêu nhau. Chàng và nàng không thể cưới nhau. Vì chàng đã cưới một vợ có lúm đồng tiền giả, và nàng đã cưới một chồng già.

Jude de Obscure – Thomas Hardy, 1895

45*r. Chàng và nàng yêu nhau. Chàng và nàng không thể ở bên nhau. Về già, chàng nhìn ô cửa sổ nhà nàng dưới nắng chiều vàng, và quay đầu bước đi.

Thời thơ ngây (The Age of Innocence) – Edith Wharton, 1920

46. Chàng yêu một ngôi đền. Chàng không thể làm tình với ai, mỗi khi nhớ đến đền.

Ngôi đền vàng (Temple of the Golden Pavilion) – by Yukio Mishima, 1956

47. Hai con nghiện cờ bạc, cùng xây nhà thờ thủy tinh.

Oscar and Lucinda – by Peter Carey (Booker Prize 1988, nằm trong shortlist The Best of the Booker)

48*r. Ở một cái hốc xa tít cũ rít của dải ngân hà, có một mặt trời vàng mà chả ai buồn để tâm. Xoay quanh mặt trời đó có một quả cầu xanh, nơi những sinh vật xuất thân từ vượn còn hủ lậu đến nỗi vẫn nghĩ đồng hồ số thật là một phát kiến hay ho. Vấn đề của hành tinh này là mọi người đều khốn khổ, kể cả những người đeo đồng hồ số, chủ yếu vì những tờ giấy xanh. Một anh bảo này chúng ta tử tế với nhau hơn thì sẽ tuyệt biết bao, thế là bị cả đám đóng đinh vào cái cây. Nhiều người bảo lẽ ra chúng mình không nên nhảy xuống khỏi cây, trong khi nhiều người khác bảo lẽ ra không nên bò ra khỏi biển.

The Hitchhiker’s Guide to the Galaxy – Douglas Adams, 1979