Sức mạnh của việc trò chuyện

Bài gốc tiếng Anh: The Power of Conversation: A Lesson from CS Lewis and JRR Tolkien

Đó là một buổi chiều ngày 19 tháng 9 năm 1931.

Ba người đàn ông tản bộ trên phố Addison’s Walk, một con đường mòn đẹp như tranh vẽ chạy men theo dòng sông Cherwell trên địa phận trường đại học Magdalen của Oxford. Hai trong số họ, C.S. Lewis và J.R.R Tolkien, đang đặc biệt chìm sâu vào một cuộc thảo luận sôi nổi về bản chất của ẩn dụ và thần thoại.

Trong khi cả hai đều là cựu chiến binh trạc tuổi 30, cùng giảng dạy ở hệ thống các trường đại học Oxford, có chung đam mê với văn học cổ, thì hai người bạn lại có nhiều điểm trái ngược. Lewis có làn da hồng hào và dáng người đầy đặn. Quần áo của ông xộc xệch và tồi tàn. Giọng ông trầm vang khi ông cất tiếng nói. Tolkien mảnh dẻ, ăn mặc tự nhiên và nói năng hoạt bát. Lewis mạnh bạo; Tolkien dè dặt hơn.

Ngoài những khác biệt về tính cách, hai người còn khác nhau một điều cơ bản hơn: Tolkien là một tín đồ Cơ đốc trung thành từ khi còn nhỏ, trong khi Lewis đã cam kết là một người vô thần từ năm 15 tuổi.

Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, lập trường của Lewis về sự tồn tại của Chúa đang dịu dần xuống, một phần là do tình bạn với Tolkien và nhiều cuộc trò chuyện họ có với nhau kể từ lần gặp đầu tiên cách đó 5 năm. Hai viện sĩ – Tolkien một giáo sư của Anglo-Saxon và Lewis một thành viên và gia sư của hiệp hội Văn học Anh – ban đầu gắn bó với nhau bởi một tình yêu chung đối với cái Lewis gọi là “Phương Bắc” – một nỗi khao khát sâu thẳm trong tâm can dành cho một thế giới sử thi đầy hào hùng nhuốm một màu xám bạc được mô tả trong thần thoại Bắc Âu.

Nhiều lần, hai người thức tới tận gần sáng, “nói chuyện về các vị thần và người khổng lồ và Asgard”. Lewis thường chia sẻ với Tolkien tình cảm ông dành cho Baldr – người bị giết nhầm nhưng đã sống lại sau Ragnarok (ngày tận thế trong thế giới Viking). Ông kể với bạn mình rằng ông thấy “cảm động một cách khó hiểu” bởi những câu chuyện về đức hy sinh, cái chết và sự hồi sinh.

Tình yêu đối với thần thoại có thể gắn kết những người bạn với nhau, nhưng nó cũng là một trong những trở ngại lớn của Lewis khi tiếp nhận Cơ đốc giáo. Khi còn trẻ, ông đã quyết định rằng đức tin cũng chỉ đơn giản là “một thần thoại trong số nhiều thần thoại” và cũng bịa đặt như tất cả những thứ còn lại: “Tất cả tôn giáo, tức là, tất cả thần thoại được đặt tên, cũng chỉ là phát minh của riêng con người – Chúa cũng giống như Loki”.

Dù Lewis muốn giữ lập trường đến thế nào, ông cũng không thể lay chuyển cảm giác rằng nó giống như một bộ quần áo cứng nhắc và gò bó – rằng ông đã cố chấp tránh xa một thứ mà ông còn chẳng chắc chắn là mình không muốn tiếp nhận. Bất chấp sự phòng thủ tốt nhất của mình, ông cảm thấy một sự thúc đẩy bên trong, và tin rằng chính Chúa đang săn lùng ông như một con nai; “Tôi chưa bao giờ nhìn thấy Chúa”, sau này ông nói, “Là Chúa đã thấy tôi”.

Nếu Chúa có thực sự đang “rình rập” Lewis, thì việc theo đuổi này hẳn diễn ra dưới dạng các cuộc nói chuyện với những người bạn – không chỉ là mỗi Tolkien, mà cả các học giả sáng giá khác, những người không thấy mâu thuẫn giữa chủ nghĩa trí tuệ và đức tin của họ. Họ thách thức niềm tin của Lewis rằng cái đầu và trái tim không thể kết hợp với nhau, đặt cho ông những câu hỏi tìm kiếm mà ông phải vật lộn để trả lời cho hài lòng, và cuối cùng đưa ông vào một cuộc hành trình để xem liệu có thể tìm thấy cơ sở hợp lý cho Thuyết hữu thần không.

Trước sự thất vọng của Lewis, dự án của ông đã thành công. Mặc dù ông không muốn thừa nhận sự tồn tại của Chúa, không muốn “quay trở lại sự ràng buộc của việc tin vào bất kỳ sự mê tín cũ (và đã bị suy tàn) nào”, và mong muốn không bị “can thiệp” bởi thần thành hoặc bất kỳ ai khác, ông nhận thấy rằng, theo suy nghĩ của mình, bằng chứng đã thực sự chỉ ra có một loại quyền năng cao hơn nào đó trong vũ trụ. Và thế là vào năm 1929, ông đã quỳ xuống, “thừa nhận rằng Chúa là Chúa” và trở thành “người cải đạo miễn cưỡng nhất nước Anh”.

Đối với Lewis, đó là một quyết định thuần túy hợp lý, và trong khi ông trở thành người hữu thần vào đêm đó, niềm tin của ông không hề vượt ra ngoài một Thiên Chúa vô danh, vô vị thành một đức tin đặc biệt vào Chúa Jesus. Phải mất 2 năm nữa, và một cuộc trò chuyện mang tính biến đổi đã bắt đầu dọc theo con đường Addison’s Walk, để ông thực hiện bước nhảy vọt đó.

Hôm đó Lewis không chỉ đi cùng Tolkien mà với cả Hugo Dyson, giáo viên dạy tiếng Anh tại trường đại học Reading, và cũng giống Tolkien, là một người Cơ đốc sùng đạo. Giữa một vòng xoáy của những chiếc lá mà một cơn gió ấm áp đã thổi lìa khỏi tán cây, Lewis đưa ra trở ngại còn lại của mình để tiếp nhận niềm tin của bạn bè mình. Ông nói với họ rằng ông có thể quan niệm Chúa Jesus là một gương mẫu tối thượng về cách sống một đời sống nhân đức, nhưng ông đấu tranh với toàn bộ ý tưởng về việc hành động chuộc tội của Chúa đã cứu sống nhân loại. Ông không thể hiểu “làm sao cuộc sống và cái chết của Một Người Nào Khác (dù người đó có là ai đi nữa) từ 2000 năm trước có thể giúp được chúng ta ở đây vào lúc này”. Cụm từ như “Hy Sinh” và “Huyết Chiên Con” đối với Lewis dường như là “ngớ ngẩn hoặc gây sốc”.

Tolkien và Dyson lắng nghe mối bận tâm của bạn mình và quyết định lui về nhà trọ của Lewis tại trường đại học để tiếp tục thảo luận. Họ an vị trong phòng của Lewis, rồi lấy tẩu thuốc của họ ra. Khi đồng hồ điểm qua nửa đêm và căn phòng lấp đầy bởi những làn khói, cả Dyson và Tolkien đều chia sẻ những hiểu biết của họ về hành trình đến với đức tin. Nhưng chính những lập luận của Tolkien cuối cùng sẽ gây ảnh hưởng lớn nhất. Vị giáo sư này đã mở ra cho Lewis một cách nhìn khác về trọng tâm của các phúc âm Cơ đốc – đó là bằng cách mỉa mai chấp nhận thay vì trốn tránh khỏi ý tưởng nó chỉ là một thần thoại.

Thần thoại, Tolkien giải thích, không phải là những câu chuyện cổ tích, những lời nói dối có chủ đích, mà là những phương tiện hữu hiệu để tiết lộ những sự thật sâu sắc nhất của thế giới. Tất cả các thần thoại, ông lập luận, soi sáng các lớp và các chiều của sự tồn tại mà chúng ta thường bỏ qua vì tầm nhìn hạn hẹp của con người. Bằng cách này, chúng thực sự có thể “thực” hơn những gì chúng ta thường gọi là thực tế. Tolkien cho rằng những người tạo ra thần thoại đã thực hiện quyền năng được Chúa trao cho, và đóng vai trò như “người sáng tạo phụ”, những người chia sẻ những mảnh ghép của Sự thật cuối cùng bị ẩn giấu khỏi tầm nhìn trần thế. Vậy là tất cả thần thoại trên thế giới đóng vai trò như lăng kính mà qua đó chúng ta thấy những mảnh ánh sáng thần thánh. Tolkien lập luận rằng những câu chuyện là bí tích.

Lewis đã đi từ việc tin rằng Cơ đốc giáo là một thần thoại và cũng sai lầm như các thần thoại khác, để cảm thấy ông phải nghĩ rằng Cơ đốc giáo là một tôn giáo thực sự, hoàn toàn khác với thế giới sai lầm trong thần thoại. Tolkien gợi ý một quan điểm khác: rằng tất cả cả thần thoại phản ánh “một mảnh vụn của ánh sáng sự thật”, và rằng Cơ đốc giáo là một “thần thoại có thật” bao gồm và mở rộng tất cả những phần còn lại. Có nghĩa là, trong khi Chúa trước đây từng sử dụng những hình ảnh thơ mộng và truyền thống của các nền văn hóa khác để thể hiện bản thân, Chúa Jesus đã đến trong thời điểm lịch sử có thật để làm sống lại một câu chuyện thực sự đã xảy ra.

Tuy nhiên, Tolkien thách thức người bạn của mình, câu chuyện về sự chuộc tội và sự phục sinh của Cơ đốc giáo vẫn nên được tiếp cận giống như cách Lewis cho phép những câu chuyện Bắc Âu về các vị thần như Baldr – làm ông cảm động một cách sâu sắc và bí ẩn. Giống như mọi thần thoại, câu chuyện thần thoại có thật của Chúa Jesus không nên được hiểu một cách máy móc, như một mô tả theo nghĩa đen về những gì đã xảy ra, mà theo nghĩa hình tượng, về ý nghĩa của nó. Câu chuyện thần thoại về Chúa Jesus không đúng theo nghĩa tiết lộ bản chất thực sự của Chúa trời, và chính xác bằng cách nào loài người được cứu chuộc, điều mà những bộ óc hữu hạn không thể hiểu được; nó đúng theo nghĩa sự nhập thể, đóng đinh và phục sinh đã tạo nên một phương tiện hữu hiệu – câu chuyện hay nhất – qua đó tâm trí con người có thể được soi sáng và có một ý niệm về một cấu trúc sâu hơn nằm bên dưới các thời kỳ vĩnh cửu.

Cuộc hành hương đến với đức tin của Lewis đã là một chặng đường dài, trong đó những rào cản về trí tuệ dần dần bị loại bỏ và những mảnh ghép của cái nhìn sâu sắc từ từ được đặt đúng chỗ. Nhưng vẫn còn một mớ bòng bòng sót lại cần được gỡ rối. Cả cuộc đời mình, Lewis đã cảm nhận được sự giằng xé của hai xung lực dường như trái ngược nhau: một là khao khát sâu sắc chưa thỏa mãn đối với vẻ đẹp và niềm vui, hai là mong muốn tìm hiểu thế giới một cách hợp lý. Như Tolkien nói, Lewis nhận ra hai khuynh hướng này không nhất thiết phải đối nghịch nhau, và thực tế thì có thể dung hòa được. Ông nhận thấy rằng đức tin có thể là chất xúc tác lớn nhất cho trí tưởng tượng và trí tưởng tượng đó có thể hình dung về một thực tại có thật hơn cái thực tại chỉ được khám phá bằng cách quan sát lâm sàng. Một khả năng mới mở ra cho Lewis: một khả năng trong đó ông có thể hiến dâng toàn bộ bản thân mình cho đức tin Cơ đốc-  trí óc và trái tim, trí tuệ và trực giác. Đó là một khoảnh khắc biến đổi mặc khải.

Lewis tiếp tục nói chuyện với Tolkien đến 3 giờ sáng. Và khi ông tiếp tục lật lại cuộc trò chuyện của họ trong những ngày tiếp theo, niềm tin của ông dành cho câu chuyện về sự khổ hạnh của Chúa Jesus lớn dần, cho đến khi ông có thể viết cho một người bạn vào ngày 1 tháng Mười: “Tôi vừa mới chuyển từ việc tin Chúa sang chắc chắn tin vào Chúa Jesus – trong đạo Cơ đốc. Tôi sẽ cố giải thích việc này vào một lần khác. Cuộc nói chuyện thâu đêm của với Dyson và Tolkien có liên quan rất nhiều đến nó”.

Lewis không chỉ chuyển từ chủ nghĩa vô thần mà còn sang một con đường hoàn toàn mới cho cuộc đời mình. Ông được chỉ định sẵn để trở thành một nhà biện giải Cơ đốc nổi tiếng nhất trong thời đại của mình, người tạo ra những thần thoại soi sáng của riêng mình dưới dạng bộ truyện Narnia, và một nhà văn có tác phẩm tiếp tục được khám phá và đánh giá cao cho tới tận ngày nay. Một cuộc nói chuyện đơn lẻ bắt đầu trên con đường Addison’s Walk hóa ra giống như một công tắc đường sắt – chuyển hướng Lewis từ con đường ông đang đi, và đưa ông sang một hướng hoàn toàn mới.

Làm sống lại sức mạnh của việc trò chuyện: Chúng ta học được gì từ Tolkien và Lewis?

Tôi chia sẻ câu chuyện về cuộc trò chuyện đặc biệt này giữa Lewis và Tolkien không phải vì tôi nghĩ mọi người sẽ đồng ý với kết luận mà họ đã đạt được, mà vì nó là một, nếu bạn cũng đồng ý, “câu chuyện thần thoại có thật” – một câu chuyện soi sáng sự thật vượt qua những chi tiết cụ thể về ai, cái gì, ở đâu của bản thân câu chuyện và cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về cấu trúc sâu hơn của sự vật. Trong trường hợp này, câu chuyện tiết lộ quyền năng tiềm ẩn mang tính biến đổi của cuộc trò chuyện trực tiếp, và hy vọng giúp chúng ta suy ngẫm xem liệu sức mạnh và vẻ đẹp toàn vẹn của quyền năng đó có đang bị đe dọa trong thế giới ngập tràn công nghệ của chúng ta hay không.

Trong cuốn sách của mình, Reclaiming Conversation (tạm dịch: Khôi phục lại việc chuyện trò), giáo sư Sherry Turkle của MIT đã ghi lại những bằng chứng đáng buồn cho thấy những người hiện đại đang ngày càng trốn chạy khỏi “cuộc trò chuyện kết thúc mở và ngẫu hứng, cuộc trò chuyện mà chúng ta đùa vui với những ý tưởng”. Chúng ta ẩn mình sau màn hình và trò chuyện càng nhiều càng tốt qua thư điện tử và tin nhắn. Chúng ta biện minh cho những động thái này vì chúng hiệu quả và thực tế là khi chúng ta có khả năng chỉnh sửa các tin nhắn, chúng ta có thể trở nên là “chính mình” hơn, và đảm bảo rằng chúng ta nói những điều “vừa đủ”.

Nhưng nhiều điều bị mất trong cuộc rút lui khỏi việc tương-tác-xác-thịt này. Giao tiếp qua trung gian công nghệ có thể làm cho cuộc trò chuyện hiệu quả hơn, nhưng nó cũng khiến cuộc trò chuyện hời hợt hơn. Nó làm suy giảm sự đồng cảm và cảm giác kết nối thực sự của chúng ta – những trạng thái dựa trên việc chúng ta có thể nghe thấy giọng nói của nhau, đọc ngôn ngữ cơ thể của nhau, và nhìn thấy nét mặt của nhau. Chúng ta không chỉ đánh mất cái nhìn sâu sắc vào cuộc sống của nhau, mà còn mất đi hiểu biết sâu sắc về cuộc sống của chính mình nữa.

Một cuộc trò chuyện tốt là một món quà chúng ta không nên nhường lại cho các thiết bị của mình. Để hồi sinh sức mạnh biến đổi của nó, chúng ta phải đầu tư một cách có ý thức các yếu tố sau:

Thời gian. Một cuộc trò chuyện tốt không thể diễn ra theo nguyên tắc hiệu quả. Nó cần phải được kết thúc mở, không có thông số thời gian hay định sẵn chương trình. Và nó cũng không cần phải diễn ra suôn sẻ. Thường thì chúng ta cắt ngắn cuộc trò chuyện vì có một khoảng dừng khó xử, hoặc có vẻ như tạm lắng, hoặc vì mọi người đang lặp lại chính mình. Thế nhưng những điều như vậy lại là hoàn toàn tự nhiên; chúng ta có cho rằng Lewis, Dyson và Tolkien nói chuyện 8 tiếng hoặc lâu hơn mà không hề có lúc tạm lắng nào? Không có vẻ thế! Đôi khi sự im lặng trở thành mấu chốt quan trọng dẫn đến một luồng thảo luận mới và hiệu quả. Và một cuộc trò chuyện tốt thường lặp lại những điều tương tự một vài lần, đi sâu hơn ở lần thứ hai, với nhận thức mới xuất hiện ở lần thứ ba.

Thay vì bỏ chạy khi các cuộc trò chuyện gặp trở ngại, hãy cho chúng cơ hội để được mở ra.

Không gian. Có thể bạn đã nghe nói về “Inklings”, một câu lạc bộ không chính thức và là một hội văn học nổi tiếng mà Lewis và Tolkien cũng như một số nhà văn khác tham gia. Thành viên của Inklings gặp nhau vào các tối thứ Năm ở nhà trọ của Lewis tại trường đại học Magdalen, và tại quán rượu Eagle and Child vào trưa các ngày thứ Ba, để uống rượu, hút tẩu và đọc cho nhau nghe những tác phẩm mới nhất của họ. Đó là một nhóm những nhân vật bậc thầy tuyệt vời, trong đó họ có thể khuyến khích nhau và đưa ra phản hồi về bài viết của họ. Và đó không phải là nhóm duy nhất mà các thành viên tham gia. Cả Lewis và Tolkien tham dự vào nhiều nhóm thảo luận trong suốt cuộc đời họ. Trên thực tế, trong một nhóm như thế, nhóm Coalbiters (lấy tên từ kolbítat của Iceland, nghĩa là những người ngồi gần ngọn lửa đến mức họ thực tế có thể cắn than) mà Lewis và Tolkien lần đầu tiên thắt chặt mối liên kết của họ bằng việc đọc bài thơ Iceland và thảo luận về thần thoại Bắc Âu.

Một cuộc trò chuyện tốt không chỉ cần phải ở trong một câu lạc bộ hay nhóm bán chính thức, mà còn phải kỹ lưỡng cân nhắc việc thường xuyên gặp gỡ mọi người.

Duy trì sự chú ý. Như Turkle lưu ý: “Các nghiên cứu chỉ ra rằng sự hiện diện của một chiếc điện thoại trên bàn (dù là điện thoại tắt) sẽ thay đổi những gì mà mọi người nói. Nếu ta nghĩ rằng mình có thể sẽ bị gián đoạn, ta sẽ giữ cho cuộc trò chuyện nhẹ nhàng, về các chủ đề ít tranh cãi và ít để lại hậu quả”. Liệu cuộc trò chuyện của Lewis với Dyson và Tolkien có bao giờ bắt đầu không nếu bạn bè của ông cứ liên tục cắm cúi kiểm tra điện thoại của họ? Nếu mọi người cứ chốc chốc lại ngẩng lên và nói “Chờ đã, cái gì cơ?”

Một cuộc trò chuyện tốt là một nỗ lực hợp tác, trong đó mỗi người tham gia phải toàn tâm toàn ý thay vì dừng lại và rời khỏi một cuộc trò chuyện, mỗi người phải dành sự chú ý bền vững, tích cực lắng nghe người bạn đồng hành của mình để có thể đóng góp dựa trên hiểu biết của người khác. Vì cuộc trò chuyện tốt cũng cần:

Sự hợp tác. Cách chúng ta giao tiếp thông qua tin nhắn và mạng xã hội đã định hình nên cách chúng ta tương tác trực tiếp: chúng ta nói gì đó, và rồi ngồi lại và đợi phản hồi tới. Mọi người đều đưa ra một câu trả lời riêng lẻ, khác hẳn nhau; chúng ta nói chuyện xung quanh nhau hơn là với nhau.

Nhưng những cuộc trò chuyện tốt sẽ mang tính chuyển động và hợp tác – chúng giống như những phần của một bản nhạc giao hưởng nơi mỗi phần đóng góp vào sự hài hòa và nhịp điệu, cùng hòa thanh các nốt nhạc với nhau. Đôi khi bạn có một cái nhìn sâu sắc tiềm ẩn mà bạn thậm chí còn không biết mình có, và không thể nói rõ, và sau đó một ai đó nói điều gì đó khơi lên nó khiến bạn cảm thấy như một bóng đèn vụt sáng trong đầu. Đôi khi bạn có một mảnh ý tưởng mà bạn không thể hiểu hết được, và sau đó bạn chia sẻ nó, một ai đó liên kết nó theo cách bạn chưa từng nghĩ và xây dựng trên đó, và cả nhóm sẽ tận hưởng điều hiểu biết mới nảy sinh đó. Khi cuộc trò chuyện có hiệu quả, nó có thể là một nỗ lực vô cùng sáng tạo.

Để trò chuyện có hiệu quả, nó thực sự đòi hỏi mỗi người tham gia dành thời gian cho chính mình:

Cô độc và tự suy tư. Trong tác phẩm Reclaiming Conversation, Turkle lập luận rằng mặc dù có vẻ oái oăm, một cuộc trò chuyện tốt đòi hỏi sự cô độc. Để có thứ gì đó mang tới cuộc thảo luận với bạn bè, bạn cần phải tự mình suy tư về mọi thứ. Sau đó, khi bạn gặp nhau và chia sẻ những điều bạn đang suy nghĩ, họ có thể xây dựng trên những hiểu biết của bạn, từ đó gợi cho bạn nhiều điều hơn để suy ngẫm vào lần tới bạn ở một mình. Điều này tạo ra một “vòng lặp đức hạnh” nơi “khi một mình ta chuẩn bị để trò chuyện cùng nhau” và “khi cùng nhau ta học cách sống đơn độc hiệu quả hơn”.

Với sự cô độc, Turkle không chỉ nghĩ đến việc tách biệt khỏi những người khác, mà còn ngắt kết nối với cả những thiết bị công nghệ nữa. Thật không may, nhiều người không thể chịu đựng được mức độ đơn độc này và liên tục bị phân tâm bởi các thiết bị. Điều này ngược lại, biến “vòng tròn đức hạnh” thành một vòng luẩn quẩn:

Vì sợ cô đơn, chúng ta cố gắng chú ý đến bản thân mình. Và điều đau khổ là chúng ta không còn khả năng chú ý đến nhau. Nếu chúng ta không thể tìm thấy tâm của chính mình, chúng ta sẽ mất niềm tin vào những gì chúng ta có để cho người khác.

Hoặc bạn có thể vận hành vòng luẩn quẩn theo cách ngược lại. Chúng ta cố gắng chú ý tới người khác để rồi không còn khả năng hiểu bản thân.

Sherry Turkle – Reclaiming Conversation: The power of Talk in a Digital Age

Sau khi Lewis cải đạo sang chủ nghĩa hữu thần, ông bắt đầu tham dự buổi nguyện của trường đại học Magdalen vào các ngày trong tuần và nhà thờ giáo xứ Anh vào Chủ nhật – không phải vì ông cam kết với đức tin Cơ đốc giáo, mà đơn giản là thời gian để chiêm nghiệm. Ông cũng bắt đầu nghiên cứu các sách phúc âm, đặc biệt là sách của John bằng nguyên bản tiếng Hy Lạp. Vì vậy, vào thời gian đi bộ dọc đường Addison’s Walk, ông có gì đó để mang tới cuộc trò chuyện – ông có thể nói với bạn bè của mình những suy nghĩ mà ông đang đấu tranh, và những khoảng thời gian suy tư cô độc mà bạn bè ông dành cho chính mình cho phép họ giúp ông vật lộn với những ý tưởng. Sự cô độc đã dọn sẵn đường cho cuộc trò chuyện hợp tác.

Đánh giá cao sự khác biệt. Trong nghiên cứu của mình về bản chất của cuộc trò chuyện hiện đại, Turkle phát hiện ra rằng nhiều người ngày nay ngại nói chuyện với những người mà họ bất đồng với. Họ không thích xung đột, họ không thích niềm tin của mình bị thách thức, và họ thà tương tác với những người chỉ đơn thuần xác nhận quan niệm có sẵn của họ.

Nhưng một vài cuộc trò chuyện hay nhất là những cuộc tranh luận dân sự về những ý tưởng và vấn đề quan trọng. Trong suốt hành trình cải đạo của Lewis, ông nửa than thở, nửa mừng vui rằng “Mọi thứ mà tôi đã nỗ lực vất vả để trục xuất khỏi đời mình dường như đã bùng lên và gặp tôi trong những người bạn thân nhất”. Trong khi những cuộc trò chuyện ông có với các cộng sự Cơ đốc đôi khi khiến ông thất vọng, ông rất thích thử thách và thích cách những cuộc thảo luận như vậy khiến ông đào sâu vào những niềm tin của chính mình và chiêm nghiệm xem chúng đã được chống đỡ vững vàng chưa.

Đối với chúng ta cũng vậy, bằng cách tương tác với những người ta bất đồng với, chúng ta sẽ phát triển và kiểm tra ý tưởng của chính mình chặt chẽ hơn, dù là cuối cùng ta không thay đổi ý kiến của mình.

Tính thường xuyên. Nếu nói rằng một cuộc trò chuyện đơn lẻ đã thay đổi cuộc đời của C.S. Lewis thì đó vừa là sự thật vừa là xuyên tạc. Cuộc trò chuyện ông có với Tolkien thực sự đã thay đổi toàn bộ cách nhìn của ông về Cơ đốc giáo, nhưng cuộc nói chuyện ấy đã không thể có được nếu không có tất cả những cuộc thảo luận mà hai người đã trải qua trong nhiều năm.

Tolkien thường ghé qua đại học Magdalen để gặp Lewis mỗi sáng thứ Hai. Họ cùng nhau uống rượu và thảo luận mọi thứ từ văn học tới chuyện phiếm về chính trị của khoa. Đôi khi họ chỉ chơi chữ và trao đổi những chuyện cười ngớ ngẩn. Không phải cuộc trò chuyện nào cũng đều sâu sắc. Nhưng thông qua những cuộc trò chuyện thông thường này, họ xây dựng một mối gắn bó để có thể có những cuộc thảo luận sâu sắc.

Ngày nay, bạn thường nghe mọi người nói họ ghét những cuộc nói chuyện phiếm và thấy những cuộc trò chuyện bình thường thật nhàm chán. Với sự thiếu kiên nhẫn sinh ra từ thời đại số, họ muốn nhảy cóc ngay tới những thứ to tát. Nhưng Turkle đã nói rất hay:

Bạn sẽ không thể nào biết được bao giờ mình sẽ có một cuộc trò chuyện quan trọng. Bạn phải tham gia vào vô số cuộc trò chuyện mà bạn cảm thấy không hiệu quả hoặc nhàm chán để có thể có mặt trong cuộc trò chuyện sẽ khiến bạn thay đổi suy nghĩ.

Sherry Turkle – Reclaiming Conversation: The power of Talk in a Digital Age

Kết luận: Ghi lại sự kỳ diệu của cuộc trò chuyện

Một số những khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong đời chúng ta xoay quanh các cuộc trò chuyện: cuộc trò chuyện bạn có với bạn trai/bạn gái khi cả hai nhận ra rằng mình đang yêu; cuộc trò chuyện bạn có với người cố vấn đã giúp đúc kết xem sự nghiệp nào bạn nên theo đuổi; cuộc trò chuyện bạn có với con gái mình khi bạn nhận ra con bé đã thực sự trở thành người lớn.

Các cuộc trò chuyện trực tiếp có thể giải trí, gây hứng thú và thỏa mãn tâm hồn. Chúng có thể là cơ hội học tập và cố vấn. Chúng có thể giúp bạn khám phá nhiều điều về người khác và về chính mình, những điều nếu không sẽ bị che giấu mãi mãi. Chúng có thể khơi gợi nhận thức biến đổi, và thậm chí là khám phá biến đổi; chúng có thể đưa bạn trở lại với chính mình. Lewis tóm tắt một cách gợi mở về niềm vui của các cuộc trò chuyện: 

Đó là những buổi hoàng kim… khi chúng tôi đi dép lê, chân chúng tôi sải bước về phía ngọn lửa và đồ uống ở ngay khuỷu tay; khi cả thế giới và cả những thứ bên ngoài tự mở ra trong tâm trí chúng ta khi ta nói chuyện; và không ai có bất kỳ yêu cầu hay trách nhiệm nào với người khác, nhưng tất cả đều là những người tự do và bình đẳng như thể chúng ta mới gặp nhau lần đầu tiên một tiếng trước, đồng thời một tình cảm êm dịu theo năm tháng bao bọc chúng ta. Cuộc sống – cuộc sống tự nhiên – không có món quà nào tốt hơn để ban tặng.

C.S. Lewis

Những điều kỳ diệu, thậm chí những điều thay đổi cuộc đời có thể xảy ra khi bạn chọn tham gia vào một cuộc trò chuyện – khi bạn chọn ngẫu hứng thay vì chỉnh sửa và hiệu quả. Nhưng nghịch lý là đó là một sự ngẫu hứng mà chúng ta phải cố ý tìm kiếm và sẵn sàng bản thân cho nó.

Vậy hãy chuẩn bị mở lối cho mình đi nhé.

———————

Phào! Cuối cùng cũng xong!

Lần đầu tiên quyết định dịch một bài mà còn chưa đọc trọn bản gốc một lượt (vì niềm tin và lòng tôn kính dành cho J.R.R Tolkien, tác giả của Chúa Nhẫn, và cũng vì đây là một trong những bài viết tinh hoa của ArtOfManliness), cũng may mà dịch được đến cùng (Rốt cuộc ngồi dịch một lèo từ 8 giờ tối tới 2 rưỡi sáng. Bài dài quá dài. Mai dậy là hai quầng thâm o.O). Vừa đọc vừa dịch, cứ phải quay tới quay lui để sửa mấy chỗ trước đó hiểu nhầm vì có quá nhiều thuật ngữ của các tôn giáo mà mình không biết, tài liệu tiếng Việt lại không có mấy. Hẳn là phải dịch từng chữ mới hiểu rõ cả bài thế này, nếu chỉ đọc qua thì chẳng hiểu đọc xong sẽ còn sót lại được bao nhiêu. Bài viết nói tới “tầm quan trọng” của việc trò chuyện mặt đối mặt, chứ dịch xong hiểu rõ thì thấy cả “tầm nguy hiểm” của nó nữa. Lewis từ một người vô thần trở thành một người tin vào Chúa Jesus bằng sự ảnh hưởng của bạn bè. Trò chuyện quá nguy hiểm. Đến mình, cũng là người vô thần, chỉ nghe đoạn đối thoại thôi cũng đã nhìn các truyền thuyết tôn giáo với một quan điểm rộng thoáng hơn =.= Quả không hổ danh là Tolkien.

Book quote: Gift from the sea

Anne Morrow Lindbergh là nữ nhà văn yêu thích thứ hai của tui sau Alice Munro. Thực ra là tui mới đọc mỗi cuốn “Gift from the sea” (Tạm dịch: “Quà tặng từ biển cả”), nhưng đây là cuốn sách tui gặp gỡ những năm 20 tuổi và vẫn ở bên tui tới tận bây giờ. Đây là vài trích đoạn đáng ghi nhớ từ trong sách, chứ nói thiệt là sách có nhiều chỗ cũng lan man lắm. Tác giả cũng là phụ nữ mà. 😀

Rảnh thử dịch tạm ra tiếng Việt xem sao, nhưng mà sửa mãi vẫn nghe ra lủng củng. Chẳng hiểu đọc sách để làm gì, văn vẻ chả thấy khá hơn mấy. T_T

The most exhausting thing in life, I have discovered, is being insincere. That is why so much of social life is exhausting; one is wearing a mask. I have shed my mask.

“Tôi phát hiện ra, điều khiến con người ta mệt mỏi nhất trên đời chính là sự giả dối. Đó là lý do vì sao cuộc sống của chúng ta đầy mệt mỏi ưu phiền, khi ai cũng đeo một chiếc mặt nạ. Tôi đã vứt mặt nạ của tôi đi rồi.”

Don’t wish me happiness

I don’t expect to be happy all the time…

It’s gotton beyond that somehow.

Wish me courage and strength and a sense of humor.

I will need them all.

“Xin đừng chúc tôi hạnh phúc. Tôi chẳng kỳ vọng mình sẽ hạnh phúc mãi mãi. Tôi còn mong xa hơn thế. Hãy chúc tôi có lòng can đảm và sức mạnh và khiếu hài hước. Tôi sẽ cần tới tụi nó cả đó (vào những giờ khắc không ngờ tới).”

Vào những lúc gặp chuyện không vui, tui luôn nhớ tới câu nói này. Thiệt chẳng có gì cần thiết hơn là óc hài hước, có thể tự trào bản thân trước tình huống éo le. Chỉ tới lúc đó tui mới gom hết can đảm và sức mạnh để vượt qua.

Him that I love, I wish to be free — even from me.

“Người đàn ông tôi yêu, tôi ước anh được tự do, cho dù là tự do khỏi tôi đi nữa.”

When you love someone you do not love them all the time, in exactly the same way, from moment to moment. It is an impossibility. It is even a lie to pretend to. And yet this is exactly what most of us demand. We have so little faith in the ebb and flow of life, of love, of relationships. We leap at the flow of the tide and resist in terror its ebb. We are afraid it will never return. We insist on permanency, on duration, on continuity; when the only continuity possible, in life as in love, is in growth, in fluidity – in freedom.

“Khi bạn yêu một người, không phải lúc nào bạn cũng yêu họ giống hệt theo cùng một cách, lúc này qua lúc khác. Điều đó là không thể dù bạn cố gắng thế nào đi nữa. Thậm chí nếu giả vờ như vậy thì là nói dối. Vậy mà đây lại chính là điều hầu hết chúng ta đòi hỏi. Chúng ta không tin vào sự thăng trầm của cuộc sống, của tình yêu và của các mối quan hệ. Chúng ta vui sướng khi thủy triều lên, nhưng kháng cự lại khi triều xuống. Vì lo sợ nó sẽ không bao giờ trở lại, chúng ta nhất định muốn nó phải cố định như vậy mãi, liên tục như vậy mãi, trong khi sự liên tục duy nhất trong cuộc sống cũng như trong tình yêu, chỉ có thể xuất hiện và tồn tại trong quá trình trưởng thành, trong sự linh hoạt và tự do.”

How inexplicable it seems. Anything else will be accepted as a better excuse. If one sets aside time for a business appointment, a trip to the hairdresser, a social engagement or a shopping expedition, that time is accepted as inviolable. But if one says: I cannot come because that is my hour to be alone, one is considered rude, egotistical or strange.

“Thật kỳ quặc làm sao khi mọi điều khác đều được chấp nhận như một cái cớ hợp lý. Nếu ta bảo mình có một cuộc hẹn làm ăn, hẹn làm tóc, gặp gỡ bạn bè hay đi mua sắm, khoảng thời gian đó được coi là bất khả xâm phạm. Nhưng nếu ta bảo: Tôi không tới được vì đó là khoảng thời gian tôi dành cho chính tôi được ở một mình, ta sẽ bị coi là thất lễ, ích kỷ hay kỳ lạ.”

I promise to respect and protect your aloneness, knowing that everything created must have its period of darkness: child and bulb, poem and personality. I promise not to pry into your loneliness, never to tear at the bud with frightened fingers to make sure there is a flower inside. I believe in the flower.

“Tôi hứa sẽ tôn trọng và bảo vệ sự cô độc của bạn, tôi biết rằng mọi tạo vật đều có khoảng tối của nó: đứa trẻ và mầm củ, thơ và cá tính. Tôi hứa sẽ không tọc mạch vào không gian riêng của bạn, sẽ không bao giờ vạch nụ hoa với ngón tay run rẩy chỉ để chắc chắn rằng có hoa trong đó. Tôi tin vào bông hoa ấy.”

‘No man is an island,’ said John Donne. I feel we are all islands — in a common sea.

“‘Chẳng ai là một hòn đảo cả,’ John Donne từng nói. Tôi cảm thấy rằng chúng ta mỗi người đều là một hòn đảo trong biển lớn.”

A good relationship has a pattern like a dance and is built on some of the same rules. The partners do not need to hold on tightly, because they move confidently in the same pattern, intricate but gay and swift and free, like a country dance of Mozart’s. To touch heavily would be to arrest the pattern and freeze the movement, to check the endlessly changing beauty of its unfolding. There is no place here for the possessive clutch, the clinging arm, the heavy hand; only the barest touch in passing. Now arm in arm, now face to face, now back to back—it does not matter which. Because they know they are partners moving to the same rhythm, creating a pattern together, and being invisibly nourished by it.

“Một mối quan hệ tốt đẹp cũng giống như một bản nhạc khiêu vũ, cùng được xây dựng trên một số nguyên tắc giống nhau. Đôi bạn nhảy không cần phải bám chặt lấy nhau, mà luôn di chuyển nhịp nhàng trong cùng một điệu nhảy, phức tạp nhưng sôi động, nhanh và tự do, như một điệu nhảy đồng quê của Mozart. Nếu chạm quá mạnh là bạn đang phá vỡ tính nhịp nhàng, ngăn trở sự chuyển động, làm mất đi vẻ đẹp của sự thay đổi không ngừng nghỉ đang mở ra. Ở đây không có chỗ cho những cái ôm chiếm hữu, hay những cánh tay đeo bám, hay những bàn tay nặng nề, chỉ có những cái chạm nhẹ nhàng khi đôi bạn lướt qua nhau. Dù là tay trong tay, mặt đối mặt hay lưng chạm lưng, thì cả hai người đều cảm nhận được sự đồng điệu của người bạn nhảy, họ cùng nhau tạo ra điệu nhảy và cùng tận hưởng trong cuộc sống ấy.”

It is not the desert island nor the stony wilderness that cuts you from the people you love. It is the wilderness in the mind, the desert wastes in the heart through which one wanders lost and a stranger. When one is a stranger to oneself then one is estranged from others too. If one is out of touch with oneself, then one cannot touch others.

“Không phải sa mạc khô cằn hay bãi đá hoang vu chia cắt bạn với những người thân yêu. Chính là sự hoang vu trong tâm trí, sa mạc cằn cỗi trong tâm hồn mà bạn đang lạc lối trong đó và trở thành một người lữ hành xa lạ. Khi bạn lạ lẫm với chính mình, thì chính bạn cũng đang tự tách mình khỏi mọi người. Và nếu bạn không thể chạm vào tâm hồn mình, thì làm sao bạn có thể chạm tới tâm hồn người khác.”

The only real security is not in owning or possessing, not in demanding or expecting, not in hoping, even. Security in a relationship lies neither in looking back to what it was in nostalgia, nor forward to what it might be in dread or anticipation, but living in the present relationship and accepting it as it is now.

“Sự đảm bảo thực sự duy nhất không nằm ở sở hữu hay chiếm hữu, không nằm ở đòi hỏi hay mong đợi, thậm chí cũng không nằm trong hi vọng. Sự đảm bảo trong một mối quan hệ không nằm ở việc hoài niệm về những điều xưa cũ, cũng không nằm ở việc trông về tương lai để rồi lo lắng hay dự đoán, mà nằm ở việc sống trong mối quan hệ hiện tại, chấp nhận nó như nó đang là.”

What woman resents is not so much giving herself in pieces as giving herself purposelessly.

“Điều phụ nữ lo sợ không phải là cho đi từng mảnh nhỏ của cô ấy, mà là cứ thế trao đi không mục đích.”

The problem is not entirely in finding a room of one’s own, the time alone, difficult and necessary as that is. The problem is more how to still the soul in the midst of its activities. In fact, the problem is how to feed the soul.

“Vấn đề không phải hoàn toàn nằm ở việc tìm ra không gian riêng cho bản thân, hay thời gian ở một mình, mặc dù điều đó là cần thiết và đã khó lắm rồi. Vấn đề hơn hết là làm sao để giữ tâm hồn tĩnh lặng giữa mớ hỗn độn của các hoạt động. Đúng ra là, làm sao để chăm sóc cho tâm hồn.”

“For Sayonara, literally translated, ‘Since it must be so,’ of all the good-bys I have heard is the most beautiful. Unlike the Auf Wiedershens and Au revoirs, it does not try to cheat itself by any bravado ‘Till we meet again,’ any sedative to postpone the pain of separation. It does not evade the issue like the sturdy blinking Farewell. Farewell is a father’s good-by. It is – ‘Go out in the world and do well, my son.’ It is encouragement and admonition. It is hope and faith. But it passes over the significance of the moment; of parting it says nothing. It hides its emotion. It says too little. While Good-by (‘God be with you’) and Adios say too much. They try to bridge the distance, almost to deny it. Good-by is a prayer, a ringing cry. ‘You must not go – I cannot bear to have you go! But you shall not go alone, unwatched. God will be with you. God’s hand will over you’ and even – underneath, hidden, but it is there, incorrigible – ‘I will be with you; I will watch you – always.’ It is a mother’s good-by. But Sayonara says neither too much nor too little. It is a simple acceptance of fact. All understanding of life lies in its limits. All emotion, smoldering, is banked up behind it. But it says nothing. It is really the unspoken good-by, the pressure of a hand, ‘Sayonara‘.

Anne Morrow Lindbergh, North to the Orient.

Sayonara, nếu dịch nghĩa đen sẽ có nghĩa là “Nếu phải vậy thì…”, trong số những từ tạm biệt mà tôi từng nghe, là từ đẹp nhất. Không giống như Auf WiedershensAu revoirs, nó không cố lừa phỉnh bản thân bằng lời hứa hẹn ‘rồi chúng ta sẽ gặp lại’ hay dùng bất cứ cách gì để trì hoãn nỗi đau ly biệt. Nó cũng không cố lờ đi vấn đề như Farewell. Farewell là lời tạm biệt của một người cha. Ấy là ‘Hãy đi ra thế giới ngoài kia, và mạnh giỏi, con trai.’ Đó là lời cổ vũ và khuyên nhủ. Đó là hi vọng và niềm tin. Nhưng nó đã bỏ qua khoảnh khắc quan trọng; nó chẳng hề nói gì về sự chia ly và cố che giấu cảm xúc. Nó nói quá ít. Trong khi đó, Good-by (Chúa ở bên con) và Adios lại nói quá nhiều. Chúng cố gắng lấp đầy khoảng cách, đến nỗi gần như là chối bỏ. Good-by là lời cầu nguyện, là lời khóc nỉ non. ‘Ôi, con không được đi – Mẹ sẽ không chịu nổi nếu con ra đi! Nhưng con sẽ không đơn độc một mình, không ai dõi theo. Chúa sẽ ở bên con. Bàn tay của chúa sẽ che chở cho con và thậm chí là nâng đỡ con, vô hình nhưng sẽ luôn ở đó’ – ‘Mẹ sẽ ở bên con, sẽ dõi theo con – mãi mãi’. Đây là lời tạm biệt của một người mẹ. Nhưng Sayonara không nói quá nhiều cũng không quá ít. Đó chỉ đơn giản là chấp nhận sự thật. Tất cả mọi sự hiểu biết về cuộc sống nằm ở đây. Mọi cảm xúc, âm ỉ đều được kìm nén lại đàng sau, nhưng nó sẽ không nói gì. Đây thực sự là lời tạm biệt thầm lặng, một cái vẫy tay, ‘Sayonara'”.

Vài năm trước đây, đúng lúc mất hết động lực học tiếng Nhật, thì việc gặp gỡ với nhận định này giúp tui nhận ra tiếng Nhật cũng giống như tiếng Việt hay mọi ngôn ngữ khác, đều có nét tinh tế và những từ rất đẹp, không thể có ở ngôn ngữ khác. Vậy là tui tiếp tục dùi mài. (Mặc dù vậy phải thừa nhận chẳng có mấy bài hát Nhật, phim Nhật níu giữ được lòng tui, sau gần 10 năm =.=)

[Cho bạn] 3. Cho bạn, người đang mệt mỏi vì cãi nhau với bạn đời

Vấn đề ở đây không phải là ai đúng ai sai. Các bạn chỉ đơn giản là nhìn mọi thứ từ những quan điểm khác nhau.

Đừng cố trở thành một người đặc biệt – hãy là chính mình. Ngừng chỉ trích. Và chỉ ngồi xuống thôi.

Tất cả bắt đầu khi chúng ta nói: “Tôi…”. Mọi thứ kéo theo sau đó đều là ảo tưởng.

Mọi người đều tưởng rằng cái tôi của họ là thứ gì đó bất biến, là tâm điểm bất di bất dịch mà mọi thứ xoay quanh. Khi một người nói: “Nhìn kìa, mọi người đang chết đi, ngoại trừ tôi.”, là thực ra anh ta đã chết từ lâu rồi.

Ai ai cũng nói về hôn nhân dựa trên tình yêu, chứ không phải hôn nhân chỉ vì tình dục sao? Cuối cùng thì chẳng phải hôn nhân cũng chỉ vì tiền và cái lá đa của phụ nữ đó sao? Sao không ai nói đơn giản là anh ta yêu cái lá đa ấy?

Hãy thử nhìn vào mặt của một con chó vừa quan hệ xong. Nó chỉ nhìn vào khoảng không với đôi mắt vô hồn. Cái biểu hiện đó cũng đúng hoàn toàn với con người – lúc đầu họ thả mình cuồng loạn, và đến sau cùng thì chẳng còn gì hết.

Một người đàn ông chẳng hiểu gì cưới một người đàn bà chẳng hiểu gì, và người ta chúc tụng họ. Bây giờ thì có điều tôi không hiểu.

Gia đình là nơi cha mẹ và con cái, vợ và chồng làm cho nhau phát cáu.

Khi đứa trẻ không vâng lời, bố mẹ nó nạt: ”Mày chẳng hiểu cái gì cả!” Nhưng người bố mẹ đó thì ra sao? Chẳng phải họ cũng chẳng hiểu cái gì cả hay sao? Mọi người đang lạc trong sự ngu muội.

Ai ai cũng nói về giáo dục, nhưng chúng ta đang được giáo dục để trở thành người như thế nào? Một công dân tầm thường, chấm hết.

Còn thú vị hơn cả việc xem một con khỉ diễn trò trong sở thú, đó là quan sát những con người ấy đang tự do phóng túng.

[Cho bạn] 2. Cho bạn, người nghĩ rằng bạn là thứ gì đó “khác”

Bạn lúc nào cũng học theo người khác. Nếu ai đó đang ăn khoai chiên, bạn cũng muốn có khoai chiên để ăn. Nếu ai đó đang mút kẹo, bạn cũng muốn có kẹo để mút. Nếu thấy ai đó thổi sáo, bạn sẽ mè nheo: “Mẹ, mua cho con một cây sáo như thế!”.

Và điều này không chỉ đúng với trẻ nít.

Khi mùa xuân đến, bạn để cho mùa xuân khiến bạn phát cuồng. Khi mùa thu đến, bạn để cho mùa thu khiến bạn phát cuồng. Mọi người đều chờ đợi thứ gì đó khiến họ phát cuồng. Một số người thậm chí còn khiến cuộc sống phát cuồng – họ tạo ra quảng cáo.

Con người thích rối loạn cảm xúc. Chỉ cần nhìn vào những tấm poster treo trước rạp chiếu phim: chẳng có gì ngoài những cảm xúc lẫn lộn trên khuôn mặt các diễn viên. Phật pháp có nghĩa là đừng để bản thân bị thao túng bởi rối loạn cảm xúc. Thêm nữa là ở đời, có rối rít nhặng xị lên cũng chẳng ích gì đâu.

Là một người tầm thường nghĩa là: Chỉ nhìn bằng con mắt của sự ngu dốt bầy đàn.

Bị vây quanh bởi những người hùng để rồi chính bạn cũng dồn hết can đảm để đóng vai người hùng – chẳng có gì gọi là anh hùng ở đây cả. Một tên trộm nói với con trai hắn: “Nếu mày không dẹp ngay cái kiểu thật thà chết tiệt ấy đi, thì mày sẽ chẳng bao giờ trở thành một trên trộm đáng kính như tao đâu. Mày là nỗi ô nhục của cái nghề này.”

Loài người vênh vang và thao thao về việc mình là chúa tể muôn loài. Ấy thế mà thậm chí hắn còn chẳng biết bắt đầu rèn luyện thân thể như thế nào: hắn ta ngồi xem kênh thể thao và chống chế rằng mọi người đều vậy cả.

Chúng ta sống trong sự ngu dốt bầy đàn và lẫn lộn căn bệnh đó với việc trải nghiệm thực sự. Bạn cần phải trở nên vô ngã và thức tỉnh khỏi cơn u mê này. Thiền có nghĩa là tách ra khỏi đám đông và đi bằng chính đôi chân của mình.

Một người một thì còn chấp nhận được, chứ khi bọn họ tụ tập lại thành bè lũ thì họ bắt đầu ngu dần. Họ rơi vào cái hố ngu bầy đàn. Họ rồi chắc chắn sẽ trở thành ngu ngốc như chính cái nhóm mà họ lập thành các câu lạc bộ và trả hội phí. Thiền có nghĩa là ra hỏi hố ngu bầy đàn

[Cho bạn] 1. Cho bạn, người không ngừng lo lắng người khác nhìn bạn ra sao

Bạn thậm chí còn chẳng thể đổi được một cái rắm với gã bên cạnh. Mỗi chúng ta đều phải sống một đời sống riêng. Đừng tốn thời gian vô ích ngồi nghĩ xem ai tài giỏi nhất.Đôi mắt không nói: “Đúng là chúng tớ ở thấp hơn, nhưng chúng tớ thấy nhiều hơn.”

Đôi lông mày cũng không trả lời: “Đúng là chúng tớ không thấy gì cả, nhưng chúng tớ ở cao hơn.”

Sống đời sống tỉnh thức có nghĩa là làm mọi điều một cách hoàn toàn tự nhiên không cần biết là bạn đang làm chúng. Núi không biết là núi cao. Biển không biết biển sâu và rộng lớn. Vạn vật trong vũ trụ đều vận hành tự tại như nhiên.

Chim chóc hát ca và hoa lá bừng nở là điều tự nhiên, hoàn toàn độc lập với người đang ngồi thiền ở chân vách đá kia.

Con chim không hót vì người ngồi thiền. Bông hoa không nở để gây ấn tượng với anh ta bằng vẻ rực rỡ của nó. Cũng như thế, người ngồi thiền không ngồi thiền để mong cầu giác ngộ. Mọi sinh vật đều đơn giản nhận thức về nó, qua nó, và vì nó.

Sống đời sống tôn giáo có nghĩa là sống cuộc đời của riêng bạn, tươi ròng và mới lạ, không phụ thuộc vào bất kì ai.

Ê, bạn nhìn đi đâu? Bạn không thấy tất cả những điều này đều là về bạn sao?

Lỗ đít không cần phải xấu hổ vì mình là lỗ đít. Đôi chân không cần phải giãy nảy lên vì chúng chỉ là đôi chân. Cái đầu không phải là quan trọng nhất, cái rốn cũng không nhất thiết phải tưởng tượng mình là cha thiên hạ.

Thật kì quặc cái cách dân chúng cho rằng thủ tướng là một người đặc biệt quan trọng. Mũi không thể thay mắt, và miệng thì không thể thay tai. Mọi vật trong vũ trụ đều có đặc tính riêng, vốn không thể thay thế hay trao đổi.

Vài đứa trẻ đã tóm được một con chuột nhắt và giờ nó đang quằn quại trong bẫy. Lũ trẻ đang thích thú nhìn con chuột quay quắt cào cấu chính mũi mình đến tươm máu và tự cắn xé chính đuôi của mình… Rốt cuộc thì lũ trẻ cũng sẽ ném con chuột cho mèo xơi.

Nếu tôi là con chuột, tôi sẽ tự nhủ: “Tao nhất định sẽ không làm bất cứ trò gì để mua vui cho lũ ngợm chúng mày.” Tôi sẽ chỉ ngồi xuống, và thiền.


Phần 1 này được chỉnh sửa lại một vài chỗ chưa chính xác từ bài dịch của bạn alivenowhere, được dịch từ bản dịch tiếng Anh cuốn sách [To you] của thiền sư Sawaki Kodo.